Showing posts with label Quan hệ Việt-Trung. Show all posts
Showing posts with label Quan hệ Việt-Trung. Show all posts

Có gì mới trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc?

Unknown | 9:25:00 PM | 0 comments

Để biết có gì mới trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong thời gian tới, chí ít trong năm 2014, xin mời đọc tài liệu tham khảo đặc biệt của của TTXVN ngày 31/3/2014 dưới đây (bản gốc tại đây)

Thay cho lời bình luận dài, chủ blog Bách Việt mạn phép tô đỏ và gạch dưới một số điểm đáng lưu ý, qua đó rút ra 5 ý chính: 1) Bắc Kinh sử dụng chiêu bài "duy trì thành quả sau thế chiến II" để xác lập cho được tư thế bá quyền nước lớn trên quy mô toàn cầu bất chấp sự chối từ (chưa thích ứng) của cộng đồng quốc tế; 2) Tiếp tục đề cao biện pháp dùng sức mạnh và không nhân nhượng trong trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo với các nước láng giềng; 3) Dùng chiến thuật tìm đối tượng "điểm phát lực" để tập trung giải quyết trước qua đó cảnh báo uy hiếp các đối tượng còn lại; 4) Để ngỏ khả năng đối đầu quân sự với Nhật Bản đồng thời chuẩn bị cho thời kỳ hòa dịu  tiếp sau;     
5) Riêng về quan hệ Trung-Việt, ta thấy không hề có một chữ Việt nào được nhắc đến (trong khi Myanma được được nhắc lại nhiều lần). Điều này kết hợp với với 2 ý : "tuyệt đối không chấp nhận yêu cầu vô lý của các nước nhỏ" và  "hiệu ứng cảnh báo và uy hiếp . Từ đó có thể suy ra thái độ coi thường của Bắc Kinh đối với Việt Nam, thậm chí không coi Việt Nam như một đối tác cần tranh thủ (so với Myanma) mà chỉ là một trường hợp riêng tư muốn làm gì thì làm. Do đó Việt Nam không thể mơ hồ về bất cứ khả năng thỏa hiệp song phương (đi đêm) nào trong giải quyết tranh chấp biển đảo, trái lại rất dễ bị chọn để gây "hiệu ứng cảnh báo và uy hiếp" hoặc ngược lại. (Bách Việt)



TTXVN ngày 31/3/2014
Theo tờ “Thương báo” (Hong Kong), nội dung chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc luôn là tiêu điểm thu hút sự chú ý của dư luận dù là trong báo cáo công tác chính phủ của Thủ tướng Lý Khắc Cường tại kỳ họp Lưỡng hội hay trong buổi họp báo sau khi bế mạc kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 12 hôm 13/3. Trong những sự kiện này, thái độ của Thủ tướng Lý Khắc Cường đối với chính sách ngoại giao láng giềng hết sức rõ ràng, đó là đặt ngoại giao láng giềng ở vị trí hàng đầu trong các phương hướng, lĩnh vực ngoại giao.

Động thái trên cho thấy mặc dù chiến lược đối ngoại của Trung Quốc ngày càng có xu hướng vươn ra thế giới, song trong bất kì hoàn cảnh và thời điểm nào, nước này vẫn phải ưu tiên giải quyết tốt vấn đề châu Á, việc đạt được sự hiểu biết, ủng hộ của các nước ở châu Á là quan trọng hơn hết. Trả lời phỏng vấn báo giới, Giáo sư Triệu Lỗi, Trưởng Trung tâm nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương thuộc trường Đảng trung ương cho biết phương hướng, nguyên tắc ngoại giao láng giềng của Trung Quốc trong năm 2014 không có biến đổi lớn. Về tổng thể, Trung Quốc vẫn duy trì phương thức truyền thống, song đối với những vấn đề nhỏ, nước này không ngừng tìm kiếm “điểm dốc sức mới”. Trong khi đó, ở nhiều vấn đề cốt lõi, Trung Quốc sẽ bao quát quan hệ lợi ích của các quốc gia có liên quan cũng như lợi ích cốt lõi của nước này.

Theo ông Hiểu Ngạn, bình luận viên thời sự quốc tế nổi tiếng, nội dung về quan hệ ngoại giao láng giềng hay quan hệ nước lớn kiểu mới trong báo cáo công tác chính phủ của Thủ tướng Lý Khắc Cường đều đặt việc bảo vệ chủ quyền quốc gia lên vị trí hàng đầu trong các nhiệm vụ ngoại giao tổng thể.

Đồng thời, nội dung “bảo vệ thiết thực quyền lợi hợp pháp của công dân và pháp nhân Trung Quốc ở nước ngoài” đã được nâng tầm, ngang hàng với công tác bảo vệ chủ quyên, an ninh và phát triển lợi ích quốc gia. Điều đó không chỉ phản ánh sự coi trọng của chính phủ khóa mới đối với lợi ích của nhân dân mà còn cho thấy ý thức giữ gìn và duy trì quyền lợi hợp pháp, ý thức về chỗ đứng cũng như ý thức về nguồn cội của ngoại giao Trung Quốc không ngừng nâng cao.

Trong khi đó, Giáo sư Lý Đại Quang thuộc Đại học Quốc phòng cho rằng việc đặt ngang hàng các nội dung chủ quyền, an ninh và phát triển đất nước là một lần nâng tầm quan điểm ngoại giao của Trung Quốc. Do đó, việc đưa nội dung bảo vệ công dân, pháp nhân ở nước ngoài vào báo cáo lần này cho thấy trong tiến trình trở thành nước lớn mang tính toàn cầu, quan điểm ngoại giao của Chính phủ Trung Quốc đã được nâng tầm.

“Tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, tuyệt đối không chấp nhận yêu cầu vô lý của các nước nhỏ. Liên quan đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, lập trường kiên định và rõ ràng của Trung Quốc là: Chúng tôi không chiếm những gì không thuộc về chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ bảo vệ từng tấc đất của chúng tôi”. Phát biểu này của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị trong thời gian diễn ra kỳ họp Lưỡng hội có lẽ là biểu hiện rõ nét nhất của việc nâng tầm ý thức duy trì quyền lợi hợp pháp trong chính sách ngoại giao của nước này.

Theo ông Triệu Lỗi, suốt một thời gian dài trước đây, Trung Quốc không chủ động bày tỏ thái độ về mặt ngoại giao hoặc chỉ bày tỏ thái độ phản đối đối với một số vấn đề không hài lòng. Song Trung Quốc hiện đã bắt đầu tích cực tham dự vào các công việc quốc tế, không chỉ thể hiện thái độ phản đối rõ ràng các công việc không hài lòng, mà còn bày tỏ ủng hộ đối với các công việc đem lại sự hài lòng cho nước này. Sự chuyển biến rõ nét trong phong cách ngoại giao này có thể sẽ khiến các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tạm thời chưa thích ứng.

Phong cách này của Trung Quốc có thể được hình dung bằng cụm từ “trong nhu có cương”. Cùng một sự việc, song ở góc độ này có thể là cứng rắn, ở góc độ khác lại có thể là mềm mỏng. Nói một cách tổng thể, về toàn cục, Trung Quốc vẫn duy trì sách lược “giấu mình chờ thời” trước đây, song đối với các vần đề cụ thể thái độ của nước này đã rõ ràng hơn. Đây là những biểu hiện tiến bộ của ngoại giao Trung Quốc, cộng đồng quốc tế nên từng bước thích ứng.

Trước đây cộng đồng quốc tế cho rằng ngoại giao Trung Quốc không rõ ràng, đó là không tùy tiện bày tỏ thái độ, không dễ dàng thể hiện mục đích theo đuổi. Song hiện nay tất cả đều minh bạch, rõ ràng, mục đích theo đuổi là duy trì trật tự quốc tế được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai đây chính là biểu hiện của hành động “gánh vác trách nhiệm”. Tuy nhiên, thành kiến của một số nước trong cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc rất sâu sắc khiến sự đánh giá đối với ngoại giao của Trung Quốc cũng luôn bị tiêu cực. Cho dù các nước đánh giá như thế nào, thì về vấn đề nguyên tắc, lập trường thái độ của Trung Quốc sẽ ngày càng rõ ràng và đây chính là xu thế lớn của ngoại giao Trung Quốc trong tương lai.

Ông Triệu Lỗi cho rằng: “Trong quan hệ ngoại giao láng giềng, Trung Quôc trước mặt cần tìm điểm phát lực (nghĩa là khi động vào một bộ phận nhỏ là ảnh hưởng đến toàn cục), tập trung tinh thần và sức lực giải quyết tốt một vấn đề, phát huy hiệu ứng kiểu mẫu của vấn đề này, tức là hiệu ứng cảnh báo và uy hiếp”.

Như vậy, đâu mới là điểm phát lực của ngoại giao láng giềng của Trung Quốc? Theo ông Hiếu Ngạn, Triều Tiên, Nhật Bản và Myanmar đều có điều kiện trở thành những trọng điểm trong công tác ngoại giao láng giềng của Trung Quốc. Quan hệ Trung Quốc-Triều Tiên trong năm 2014 đang diễn biến theo xu hướng xấu, “vãn hồi” là yêu cầu chung của hai nước và cũng là con bài quan trọng của Trung Quốc nhằm gia tăng ảnh hưởng đối với Triều Tiên trong tình hình khó khăn hiện nay.

Trong khi tình trạng đối đầu giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã duy trì hơn 1 năm nay. Ngoại giao Trung Quôc năm 2014 nên mượn đà này phát triển. Đồng thời với việc duy trì áp lực chính trị tâm cao, cần tìm cách gia tăng những tổn thất do đối đầu Nhật – Trung gây ra; tạo cục diện cơ bản trong thời kỳ đóng băng quan hệ Trung – Nhật, tăng cường tính chất cạnh tranh chiến lược trong ngoại giao với Nhật Bản, giành thế thắng trong đấu tranh quân sự, đồng thời chuẩn bị sẵn cục diện phá băng “thời kỳ hậu Abe”.

Theo ông Triệu Lỗi, năm nay là tròn 120 năm Chiến tranh Giáp Ngọ, việc Trung Quốc nhắc lại thời điểm lịch sử quan trọng này cho thấy thái độ quyết tâm của Trung Quốc trong việc duy trì thành quả sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai và duy trì trật tự an ninh quốc tế, Myanmar cũng là phương hướng mà ngoại giao láng giềng Trung Quốc cân quan tâm sâu sắc trong năm 2014. Trung Quốc là láng giềng quan trọng nhất của Myanmar, việc nước này quá độ hòa bình, hòa giải thuận lợi, phát triển phồn vinh phù hợp với lợi ích chiến lược của Trung Quốc.

Chỉ cần Trung Quốc hành xử thỏa đáng, đúng cách, cho dù nội bộ Myanmar xảy ra biến đổi gì, ngoại giao Myanmar trong tương lai sẽ vẫn giữ cục diện “có chỗ đứng ở ASEAN, phía Bắc dựa vào Trung Quốc, phía Tây trông mong vào Ấn Độ và giữ quan hệ tốt đẹp với phương Tây”.

Ổng Triệu Lỗi cho biết nguyên tắc ngoại giao của Trung Quốc trong thập niên 80 của thế kỉ trước là duy trì thái độ “từ bỏ” đối với các vấn đề không liên quan đến lợi ích cốt lõi của quốc gia. Năm nay là tròn 60 năm Trung Quốc đưa ra 5 nguyên tắc cùng chung sống hòa bình, nội hàm của nó rất sâu sắc. Điều này thể hiện thái độ của Trung Quốc trong việc tôn trọng, giữ gìn hòa bình cũng như kiên trì qụyết tâm của nguyên tắc này, đồng thời tuyên bố với thế giới rằng nguyên tắc quan trọng nhất trong quan hệ giữa các nước là tôn trọng lẫn nhau.

Hiện nay cho dù là ngoại giao láng giềng hay quan hệ nước lớn, Trung Quốc vừa phải chú ý thân phận là một nước đang phát triển, thân phận này đòi hỏi Trung Quốc phải duy trì thái độ từ bỏ đối với một số vấn đề quốc tế; mặt khác Trung Quốc cần chú ý đến trách nhiệm quốc tế của một nước lớn đang trỗi dậy, tích cực tham gia điều hành thế giới. Hai mối quan tâm này đã tạo nên thách thức mới, vận hội mới đối với ngoại giao Trung Quốc./.

Tàu lạ, máy bay quen

Unknown | 9:59:00 PM | 0 comments

Hai ngày qua cùng lúc có hai thông tin với nội dung căn bản hoàn toàn giống nhau: một về vụ mất tích của chiếc máy bay hành khách của hãng hàng không Malaysia; và một về "tàu lạ" khống chế, cướp phá tàu cá của Việt Nam xem thêm tại đây . Cả hai vụ việc đều xảy ra trên biển Đông, đều mang nội dung nhân đạo và có yếu tố khủng bố. Vụ máy bay mất tích gây thiệt hại lớn và mang tính chất quốc tế nhưng không thiết thân đối với Việt Nam trong khi vụ tàu cá hoàn toàn xảy ra trong vùng biển của Việt Nam gây thiệt hại nặng nề trực tiếp đối với dân chài Việt Nam, và đây chỉ là vụ mới nhất trong hàng ngàn vụ đã xảy ra.

Tuy nhiên, qua cách thức đưa tin và điều hành xử lý của nhà chức trách Việt Nam cho thấy một sự mất cân đối khó hiểu. Nó được thể hiện từ khâu phát ngôn đến khâu chỉ đạo các ngành, các cấp và việc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi mọi sự "ưu ái" dồn cho vụ máy bay mất tích với hàng trăm chuyến xuất kích của máy bay và tàu thủy (chắc chắn là rất tốn kém) được điều đi phục vụ việc tìm kiếm cứu hộ đối với chiếc máy bay của Malaysia thì chỉ một vài tờ báo mạng đưa tin chung chung về "tàu lạ" khống chế tàu cá của Nha Trang, tuyệt nhiên không thấy phương tiện, lực lượng nào tham gia ứng cứu. Đây không phải lần đầu dân chài bị bỏ mặc trước hành động cướp phá, phạt vạ của các lực lượng Trung Quốc. Điều đáng nói là, đổi lại sự đôn đáo của Việt Nam trong vụ máy bay mất tích, phía Trung Quốc lại lên tiếng nghi ngờ năng lực của Việt Nam đồng thời tìm cách lợi dụng vụ này để đưa thêm lực lượng vào biển Đông.

Vẫn biết đây chỉ là một biểu hiện nữa cho thấy bộ mặt thật của ông "bạn 4 tốt, 16 chữ vàng" đối với Việt Nam mà họ luôn coi là "thuộc quốc" của Thiên triều. Nhưng sẽ không thừa để nhắc lại câu hỏi: Tại sao Việt Nam với tư cách một quốc gia độc lập có chủ quyền với bề dầy lịch sử dân tộc hơn 4.000 mà lại có cách hành xử không tương xứng như vậy? Có người sẽ biện minh bằng điệp khúc "sách lược mềm dẻo, khôn khéo...". Nhưng thử hỏi mềm dẻo khôn khéo gì thì cũng phải đặt danh dự của của tổ quốc và lợi ích của người dân lên trên hết chứ? Hy vọng rằng đó không phải là chiếc mặt nạ che đậy sự giả dối đớn hèn vị kỷ của một nhóm lợi ích.

Trung Quốc có đánh Việt Nam nữa không?

Unknown | 12:02:00 PM | 0 comments
35 năm nay cứ vào dịp 17/2 hàng năm không chỉ người Việt Nam mà người Trung Quốc và thế giới không khỏi phân vân: Liệu Trung Quốc lại đánh Việt Nam (?), nếu có thì bao giờ, khởi chiến từ đâu và như thế nào...(?) Mối lo này sẽ mãi còn đó chừng nào tư tưởng Đại Hán bành trướng vẫn còn, ít nhiều chỉ phụ thuộc vào thế mạnh yếu của nó trong mối tương quan lực lượng mà thôi. 

Tàu cá Trung Quốc dàn hàng ngang với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tiến ra biển Đông
Trong những năm gần đây cùng với một Trung Quốc "đang trỗi dậy" khá thành công thì các mối "họa Trung Hoa" cũng ngày càng tăng lên đối với nhân loại. Đó là sự thật không chỉ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng mà cả trong lĩnh vực an ninh lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục, môi trường và sự phát triển nói chung. Chính vì thực tế này mà một tài liệu nghiên cứu của Australia đánh giá Trung Quốc là hiểm họa số một, và Thủ tướng Nhật Bản mới đây ví Trung Quốc như Đức trước thế chiến II. Trên thực địa, các lực lượng quân sự Trung Quốc đang dương oai diễu võ không chỉ trong các vùng biển quốc tế mà còn trong vùng biển, vùng trời của các nước láng giềng từ biển Hoa Đông xuống biển Đông. Tình hình cho thấy giới lãnh đạo hiện thời của nước này đã bỏ qua lời giáo huấn "ẩn mình chờ thời" của ông Đặng Tiểu Bình quá cố và nóng lòng muốn thực hiện tham vọng bá chủ càng sớm càng tốt, trong đó việc trước tiên là độc chiếm biển Đông mà họ trân tráo tuyên bố là "lợi ích cốt lõi". Để làm điều này họ chọn cách bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp công lý và đạo lý. 

Báo Úc: Trung Quốc là hiểm họa số 1
Lính Trung Quốc đằng đằng sát khí 
Trong bối cảnh nêu trên tình hình quan hệ Việt-Trung diễn biến hết sức phức tạp và căng thẳng trong nhiều năm nay. Có lẽ không một quốc gia nào giữa thời bình lại đem ra trưng cầu dân ý xem có nên đánh nước nọ nước kia...và đánh như thế nào. Vậy mà người Trung Quốc làm điều đó, và họ nói kết quả cho thấy có tới  80% dân chúng cùng vang "Việt Nam", vì (cũng theo họ) Việt Nam yếu kém nhất trong số 5 nước có tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông và vì Việt Nam phản bội Trung Quốc...  Cổ vũ cho tư tưởng  hiếu chiến ngạo mạn này, một tướng Trung Quốc tuyên bố: "Nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại..." và rằng "Thực lực quốc gia và  quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc".  Đánh giá Việt Nam yếu kém là vậy, nhưng họ lại tung ra luận điệu "Phải đánh Philipin trước" mặc dù biết rằng đằng sau Philipin có đồng minh Hoa Kỳ mà họ thực sự lo ngại. Trong khi cho công khai tuyên truyền trong dân chúng tư tưởng  hiếu chiến  kiêu căng hống hách thù địch với Việt Nam, nhưng giới lãnh đạo cấp cao ở Trung Nam Hải lại áp dụng chiến thuật vừa ve vãn vừa đe nẹt không muốn để Việt Nam cải thiện quan hệ với Mỹ, ASEAN và các đối tác quan trọng khác. Họ khéo léo gợi lên luận điệu "hai bên ngầm hiểu" rằng "Anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “Tôi không đánh anh, anh không tham gia”... như thể để hướng dẫn cách ứng xử cho Việt Nam vậy (!). 

Kết hợp những động thái  này với thực tế diễn biến tình hình, có thể thấy sở dĩ Bắc Kinh chần chừ chưa khai chiến là do lo ngại sự can thiệp của Mỹ và sự phản ứng khó lường của quốc tế.  Nhưng Bắc Kinh cũng tin rằng mối lo ngại đó có thể xảy ra trong trong trường hợp chiến sự kéo dài, tức là nếu đánh nhanh thắng nhanh thì có thể tránh được (!). Tham vọng đã được tuyên bố của Trung Quốc là chiếm trọn biển Đông mà xương sống của nó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thiếu một trong hai quần đảo này coi như thất bại. Mặt khác, do lo lắng mất cơ hội "thu hồi" các đảo nếu kéo dài tình trạng mà họ cho là "bị nước ngoài chiếm đóng" nên Bắc Kinh có thể phạm sai lầm. Mà hầu hết các cuộc chiến tranh thường là kết cục của một sự sai lầm.  Do đó, hoàn toàn chưa thể loại bỏ khả năng một lần nữa lại nổ ra xung đột vũ trang Trung-Việt; chỉ có điều nó sẽ nổ ra lúc nào và quy mô nào. Về câu hỏi này, có thể thấy Bắc Kinh không dại gì dùng chiến tranh tổng lực chỉ để chiếm mấy hòn đảo ngoài khơi. Nhưng Bắc Kinh cũng không chịu chia sẻ với ai cả. Thế trận buộc Việt Nam luôn ở thế phòng thủ, và cách phòng thủ hữu hiệu nhất là phải luôn đề cao cảnh giác trước kẻ thù trên cơ sở đoàn kết toàn dân trên dưới một lòng, dựa vào nội lực đồng thời tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế tập trung vào mục tiêu bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Trung Quốc hiện đại hóa vũ trang phục vụ mục tiêu tiến ra biển lớn  
Dù suy diễn theo hướng nào, và mối lo chiến tranh là có thực hay chỉ để phục vụ chiến thuật (của cả Trung Quốc lẫn của các bên liên quan) nhưng không nên quên rằng "dương đông kích tây" vốn là một binh pháp cổ truyền của người Hán. Với binh pháp đó, Bắc Kinh đã đánh chiếm Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn năm 1974 khi lực lượng hải quân của họ chưa hiện đại và có sức mạnh áp đảo như bây giờ. Bắc Kinh cũng đã quyết định đánh Việt Nam qua biên giới phía Bắc năm 1979 với tình trạng trang thiết bị mà tự họ đánh giá lạc hậu so với Việt Nam lúc bấy giờ. Và Bắc Kinh cũng đã cho quân bất ngờ đánh chiếm một số đảo và bãi đá tại Trường Sa của Việt Nam năm 1988 giữa lúc quan hệ hai nước đang bình thường. 

Tóm lại, người Trung Quốc có thể làm những điều không bình thường và không theo quy tắc hoặc thông lệ quốc tế để đạt mục đích cốt lõi mà họ tự đề ra cho mình. Đó cũng là một đặc tính nổi bật của người Hán. Lịch sử hình thành quốc gia của họ từ lúc bé bằng hạt ngô thời Hoa Hạ đến khi lớn bằng con gà mái ngày nay được viết bằng máu của hàng trăm cuộc chiến tranh bành trướng lãnh thổ. Họ chỉ phải dừng lại ở nơi họ bị buộc phải dừng lại. Họ không dừng bước trước thái độ quỵ lụy van xin yếu hèn. Sức mạnh của Việt Nam là ở tính chính nghĩa và công luận- điều mà Việt Nam cần chú trọng phát huy, làm cho nhân dân Trung Quốc và thế giới hiểu đúng thực chất vấn đề qua đó ủng hộ Việt Nam. Vai trò của ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân, rất cần thiết. Việc thể hiện thái độ của quần chúng nhân dân không nhất thiết phải răm rắp giống như Chính quyền.               



Hoàng Sa: VN cần hành động để thế giới hiểu

Unknown | 6:48:00 AM | 0 comments

Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế.
>>40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
GS Ngô Vĩnh Long
>> Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?
>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa
LTS: Ngày 11.1.1914, nhân kỷ niệm 40 năm Hải Quân Trung Quốc cưỡng chiếm phần còn lại của Hoàng Sa từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, một nhóm học giả Mỹ đã đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo tại không viên Đại học Harvard. Tuần Việt Nam có bài phỏng vấn GS Lịch sử Ngô Vĩnh Long của Đại học Maine (Hoa Kỳ), người có bài tham luận lại hội thảo này.



Như trong phần giới thiệu, mục đích của những người tổ chức hội thảo là tìm ra khả năng câu chuyện Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, thay vì song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc như hiện nay. Vậy kết quả hội thảo có nêu ra được những ý kiến nào thuyết phục không?
Theo tôi hiểu, những người tổ chức hội thảo không những muốn vấn đề Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, mà còn dưới khía cạnh đa chiều.
Hoàng Sa chỉ là điểm khởi đầu vì kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm toàn bộ Hoàng Sa, tức ngày 17-19 tháng Giêng năm 1974. Nhưng từ đó đến nay Trung Quốc đã tiếp tục lấn chiếm các khu vực khác trên Biển Đông vào 1988, hay 1995.
Do đó, hội thảo có phần trình bày về khía cạnh lịch sử của không những Hoàng Sa, mà cả về Trường Sa, phần về địa chính trị và an ninh khu vực, phần về  một số khả năng hợp tác trong khu vực, và phần về các giải pháp qua lăng kính luật pháp, ngoại giao và chính trị.
Về câu chuyện Hoàng Sa, hiện nay khá gây tranh cãi trong giới học giả. Có những học giả quốc tế, như Stein Tonnesson (Na Uy), nói rằngViệt Nam đấu tranh chủ quyền là vô vọng khi so sánh thực lực giữa hai nước.
Trong khi đó có học giả người Việt thì lại cho rằng cần phải tiếp tục đấu tranh đòi chủ quyền Hoàng Sa, bởi ngoài ý nghĩa tượng trưng, thực tế lịch sử Việt Nam cho thấy từ Thục Phán tới Hai Bà Trưng mất  khoảng 300 năm, rồi khoảng 500 năm nữa mới có Lý Bí, và gần 500 năm nữa mới đến Ngô Quyền và Nhà Lý thực sự là kỷ nguyên độc lập. Như vậy, cuộc đấu tranh giành lại Hoàng Sa cũng vẫn có thể thành công, dù rất lâu dài.
Ngoài ra, Việt Nam không chỉ đối mặt tay đôi với Trung Quốc, như trong lịch sử ngày xưa nữa, mà còn có cộng đồng quốc tế và khu vực đứng bên cạnh...
Xin cho biết quan điểm của ông?
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
Hải chiến Hoàng Sa khai hỏa
Một số học giả quốc tế nghiên cứu vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, hay Biển Đông trong một giai đoạn ngắn và từ khía cạnh chuyên môn của họ cho nên họ không thấy được vấn đề lớn và vấn đề lâu dài. Đối với Hoàng Sa, nếu Việt Nam chỉ chú trọng vào việc đấu tranh chủ quyền thì có thể là "vô vọng" vì vô hình trung làm cho người ta nghĩ đây chỉ là việc song phương giữa  Việt Nam và Trung Quốc, việc "trứng chọi đá".
Nhưng vấn đề Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực, giết 74 thuỷ thủ của Nhà nước Việt Nam Cộng Hoà, rồi từ đó tiếp tục bành trướng gây mất an ninh cho toàn khu vực thì vấn đề không phải chỉ song phương mà là đa phương.
An ninh trên biển của phần lớn các nước trên thế giới có lưu thông hàng hải qua khu vực Biển Đông cũng bị Trung Quốc đe doạ qua nhiều hình thức. Khoảng 90% mậu dịch quốc tế là trên biển, và khoảng 60% tổng số mậu dịch nầy là qua Biển Đông.
Do đó, Việt Nam nên  thường phải nhắc nhở thế giới về lợi ích và trách nhiệm chung bằng cách chứng minh cho thế giới biết vấn đề đấu tranh với Trung Quốc về Hoàng Sa không phải chỉ vì "tranh chấp chủ quyền" trên các hòn đảo. Ngoài vấn đề an ninh còn có vấn đề luật quốc tế, trong đó có các điều khoản của hiến pháp Liên Hiệp Quốc về việc dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ, hay lãnh hải, của nước khác, và đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Do đó, Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế. Việt Nam là nước có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực Biển Đông, và Việt Nam bị "đường 9 đoạn" cùng những hành động ngang trái khác của Trung Quốc đe doạ và gây thiệt hại lớn nhất. Vì vậy, tiếng nói của Việt Nam có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn hiện tại. Tương lai gần hay xa sẽ ra sao là tuỳ hành động hiện nay có cương quyết và hiệu quả hay không.
Chuyến đi Quảng Ngãi năm ngoái dự Hội thảo về Hoàng Sa do đại học Phạm Văn Đồng tổ chức có giúp ích gì cho ông trong hội thảo vừa rồi? Theo ông, Việt Nam có nên tiếp tục những hội thảo về Hoàng Sa như vậy, nhất là về vấn đề chứng cớ lịch sử để cung cấp thêm thông tin cho các học giả quốc tế?
Tôi đã đi Quảng Ngãi và đảo Lý Sơn nhiều lần trong những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với vai trò một người làm bản đồ.
Tôi cũng đã nghiên cứu lịch sử vùng nầy và đã tiếp tục theo dõi tình hình diễn biến trong những năm qua. Cho nên, đối với riêng tôi, việc ích lợi nhất là được về thăm và làm quen với một số đồng nghiệp ở Quảng Ngãi.
Đối với một số học giả quốc tế mà tôi có trao đổi thì phần đông cũng cho vấn đề gặp gỡ là quan trọng, còn vấn đề chứng cớ lịch sử được cung cấp thì có một số thông tin lý thú cho một vài người vì nó cho họ biết về một số quan điểm của phía Việt Nam.
Nhưng, như Tiến sĩ Vũ Quang Việt lưu ý tại hội thảo vừa qua ở Harvard,  vấn đề lịch sử chủ quyền phải được cung cấp và phân tích trên khía cạnh luật quốc tế mới có ích.
Xin cám ơn Giáo sư.
Huỳnh Phan (thực hiện)

Lệnh cấm mới của Bắc Kinh tại Biển Đông: Cần sự phản đối tập thể của ASEAN

Unknown | 10:11:00 AM | 0 comments

H2
Nhà cầm quyền Trung Quốc mới công bố lệnh cấm đối với tàu các nước vào Biển Đông (xem sơ đồ vùng cấm bên). Theo sơ đồ này, đường cấm mới áp sát lãnh thổ các nước ven Biển Đông, chỉ cách Đà Nẵng của Việt Nam khoản 50 km. Đây là một bước leo thang mới có tính toán kĩ lưỡng của nhà cầm quyền Trung Quốc.  Bước leo thanh "đòi chủ quyền"này đang bị đầu  dư luận khu vực và quốc tế lên án. Ngày 9-1 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố: “Việc hạn chế hoạt động đánh cá của các nước khác trên vùng biển tranh chấp ở biển Đông là hành vi khiêu khích và có thể gây nguy hiểm. Trung Quốc không hề đưa ra lời giải thích hay cơ sở luật pháp quốc tế nào đối với những yêu sách này. Quan điểm của chúng tôi luôn là các bên cần tránh những hành động đơn phương gây căng thẳng và hủy hoại cơ hội giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao và hòa bình”.
Ôn này cũng cho biết các quan chức ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối đến Chính phủ Trung Quốc.
Trong khi đó, báo Manila Standard Today đưa tin Chính phủ Philippines khẳng định sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nước này trước sự đe dọa của Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Philippines nhấn mạnh nước này sẵn sàng đối phó với việc tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Manila. “Chúng tôi sẽ bảo vệ nguồn tài nguyên của nước mình” - một người phát ngôn Bộ Quốc phòng Philippines cho biết.
Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định quy định mới của Trung Quốc là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. “Các quy định này vi phạm tự do hàng hải và quyền đánh bắt cá trên biển theo UNCLOS - Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh - Hành vi của Trung Quốc sẽ làm leo thang căng thẳng, khiến tình hình biển Đông thêm phức tạp, đe dọa hòa bình và ổn định khu vực”.
Giáo sư Renato C. De Castro thuộc ĐH De La Salle (Philippines) nói với Báo Tuổi Trẻ (Việt Nam): "Hành động của Trung Quốc không chỉ để khẳng định chủ quyền trên biển Đông và gây sức ép với các nước láng giềng mà còn là bài thử đối với quyết tâm “tái cân bằng lực lượng” của Mỹ tại châu Á". Ông cảnh báo tàu cá các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philippines sẽ phải đối mặt với các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và cả tàu hải quân nước này.
Trước đó, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc khi trả lời Tuổi trẻ nhận định đây là hành vi leo thang căng thẳng nghiêm trọng của chính quyền Trung Quốc. “Trung Quốc có quyền quản lý trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường bờ biển đảo Hải Nam. Tuy nhiên với quy định này Bắc Kinh đã hành động bất hợp pháp, vượt ra ngoài phạm vi hợp pháp của nước này”.
Giáo sư Thayer bình luận: "Quy định mới này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những gì chính quyền Trung Quốc đã làm từ nhiều năm nay. Đó là quấy rối tàu cá nước ngoài trên biển Đông, thu giữ lượng cá đánh bắt được và các thiết bị, phạt tiền thủy thủ... “Hành động của chính quyền tỉnh Hải Nam sẽ làm leo thang căng thẳng và gây phương hại, nếu không muốn nói là phá hủy các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC)”.Ông cũng cho rằng vụ việc này một lần nữa cho thấy chiến lược của Trung Quốc là dùng luật pháp trong nước để thúc đẩy việc đòi chủ quyền. “Phải nhấn mạnh một lần nữa rằng vùng biển trên là vùng biển quốc tế. Với hành động này, Bắc Kinh thể hiện rõ ý đồ buộc các nước phải thừa nhận việc nước này đòi chủ quyền trên biển Đông. Tuy nhiên biển Đông rất rộng và chính quyền Trung Quốc sẽ khó có thể thực thi quy định này ở khắp mọi nơi trên vùng biển này”.
Tiến sĩ Ian Storey của Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore thì xác định: "Trung Quốc chỉ có quyền buộc tàu bè nước ngoài xin phép hoạt động trong EEZ của nước này tính từ bờ biển đảo Hải Nam. Việc quy định mới áp dụng bên ngoài phạm vi EEZ của Trung Quốc là hành vi sai trái, có thể gây căng thẳng với các nước láng giềng trong khu vực. “Các nước có thể phản ứng bằng cách điều động tàu bảo vệ các đoàn tàu cá, nhưng đây là biện pháp tốn kém và làm tăng nguy cơ đụng độ trên biển”.
Trước việc này, ngày 10-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã lên tiếng phản đối hàng loạt hành động mà Trung Quốc thực hiện gần đây nhằm hiện thực hóa những yêu sách phi pháp của mình ở biển Đông. Ông Nghị đã yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái đó để đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực. “Những hoạt động nêu trên của phía Trung Quốc là bất hợp pháp và vô giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông theo Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), không phù hợp với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc, làm phức tạp thêm tình hình biển Đông”.


Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đinh Hoàng Thắng - nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan - cho biết đây không phải là việc Trung Quốc nhắc lại lệnh cấm thường niên từ tháng 5 đến tháng 8 mà là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra yêu cầu pháp lý rõ ràng đối với ngư trường tranh chấp mà Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và các nước khác trong khu vực cùng tuyên bố chủ quyền. “Các nước lớn và các thành viên ASEAN, trong đó có Việt Nam, nếu làm ngơ hay phản ứng không đúng mức đối với cái lệnh phi pháp này thì Bắc Kinh sẽ lấn tới và hậu quả là khôn lường. Nhưng nếu tất cả các nước có chung tiếng nói, lấy UNCLOS làm hệ quy chiếu, lấy chính những tuyên bố và cam kết song/đa phương của Trung Quốc để đấu lại thì vấn đề sẽ khác” .
Nhìn toàn cảnh thấy rằng, sau vụ Bắc Kinh công bố Vùng nhận dạng hàng không ADIZ (thực chất là vùng kiểm soát bay) trên biển Hoa Đông đã làm dấy lên sự phản đối rất quyết liệt từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Úc và nhiều nước khác. Dư luân cho rằng sớm muộn Trung Quốc cũng sẽ công bố ADIZ  trên Biển Đông. Biện pháp cấm tàu mới đây có thể là một phép thử để căn cứ vào mức độ phản đối quốc tế Bắc Kinh sẽ tính bước tiếp theo. Trong bối cảnh này, một sự phản đối tập thể của khối ASEAN là rất cần thiết. Tuy nhiên liêu ASEAN có thể thống nhất với nhau đưa ra một tuyên bố phản đối tập thể hay không còn phụ thuộc vào nội tình của khối này./.