Showing posts with label Thể thao và Văn hóa. Show all posts
Showing posts with label Thể thao và Văn hóa. Show all posts

"TỨ BẤT TỬ" LÀ NHỮNG VỊ NÀO VÀ CÓ TỪ BAO GIỜ?

Unknown | 4:30:00 AM | 0 comments

TỨ BẤT TỬ TRONG TÂM THỨC VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Diện
Lời dẫn của tác giả: Nhân ngày Giổ tổ năm Giáp Ngọ 2014, xin giới thiệu lại bài viết về Tứ Bất tử của Nguyễn Xuân Diện viết năm 1996. Trong các vị "Tứ Bất Tử" có 3 vị hiển thánh từ thời Hùng Vương, và đặc biệt, 2 trong 3 vị là con rể của Vua Hùng.
Trong tín ngưỡng thờ bách thần của người Việt, “hoặc có vị là tinh túy của núi sông, hoặc có vị là nhân vật linh thiêng, khí thế lừng lẫy về trước, anh linh còn mãi về sau” (Lời tựa sách Việt điện u linh), nhưng có 4 vị thần được dân gian tôn vinh là Tứ bất tử. Đó là bốn vị linh thiêng trường sinh bất tử trong thần điện Việt Nam. Mọi người vẫn cho rằng đó là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Tháng Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Thực ra, trong lịch sử đã đã diễn ra không phải hoàn toàn như vậy, và trong chúng ta không phải ai cũng biết Tứ bất tử là những ai và có từ bao giờ.   

Những ghi chép trong thư tịch cổ

Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử mà chúng tôi được biết là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập, (VHv.1772/3 q.6) do Nhà in Phúc Khê, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức.

Bản Dư địa chí mà chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (cụ thể là người các thế kỷ 16, 17, 18) đã thêm vào và sửa chữa nhiều lần. Trong số họ, có Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693-1767). 

Thư Hiên Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí (VHv.1772/3 tờ 13a) của Nguyễn Trãi. 

Lời chú ấy như sau: “... Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy” (Nguyễn Thư Hiên viết: ... Thanh nhân xưng Tản Viên Đại Vương chi tự hải vãng sơn; Phù Đổng Thiên Vương chi kỵ mã đằng không; Chử gia Đồng tử chi trượng lạp thăng thiên; Ninh sơn (kim Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh chi ấn thạch đầu thai. Vị An NamTứ bất tử vân).

Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1911) người làng Đường Lâm  là nhà học giả nổi tiếng của cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910 có viết: 

“Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào. (Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi).

Trên đây là những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn nhiều. Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua những tài liệu đó: 

Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết: “... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương”. 

Hà Kỉnh (1922-1995) trong cuốn Truyền thuyết Sơn Tinh viết: “Ở Việt Nam ta có bốn vị thần bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần”. 

Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, trong chuyên khảo Tứ bất tử chỉ thấy trình bày về bốn vị thánh bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.  

Bảng thống kê dưới đây sẽ cho thấy sự xuất hiện của các vị Tứ bất tử trong các tư liệu kể trên (số thứ tự như số thứ tự các đơn vị tư liệu đã trình ở trên):

STT
Tản Viên
Sơn Thánh
Chử
Đạo Tổ
Thánh Gióng
Từ Đạo Hạnh
Nguyễn
Minh Không
Liễu Hạnh
1
+
+
+
+


2
+
+
+

+

3
+
+
+


+
4
+
+
+


+
5
+
+
+


+

Như vậy các vị Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ và Thánh Gióng luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại. Khi Liễu Hạnh chưa giáng sinh thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không được xếp vào hàng Tứ bất tử. Thư tịch cổ cũng cho biết rằng, việc người Việt thờ phụng Tứ Bất Tử được người Trung Hoa biết đến và ghi nhận. Điều đó chứng tỏ việc phụng thờ Tứ Bất tử là một nét tâm linh rất độc đáo và riêng khác của người Việt. 

Lý giải về Tứ bất tử

Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương v.v..

Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại.
 
Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy. Cũng chính vì thế mà có đến 6 vị thánh được coi là bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt. đó là các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không. 

Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh:

Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là tên gọi của vị Thần núi Tản, vị thần tối cổ trong tâm linh dân tộc Việt. Tản Viên Sơn tức là núi Ba Vì, “núi tổ của nước ta” (Nguyễn Trãi - Dư địa chí). Núi có ba ngọn cao chót vót. Ba anh em Thánh Tản (còn gọi là Tam vị Đại Vương Quốc chúa Thượng đẳng thần) chia nhau cai quản, mỗi người một ngọn núi.

Xuất phát từ nhận định cốt lõi tín ngưỡng Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là TÍN NGƯỠNG THẦN NÚI (Sơn Tinh, Sơn thần) nằm trong hệ thống tín ngưỡng các hiện tượng tự nhiên, chúng tôi khẳng định rằng, nói Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là nói tới cả ba anh em thần núi. Như vậy, đương nhiên cả ba vị thần đó đều thuộc Tứ bất tử

Cũng từ cốt lõi của tín ngưỡng thần núi của người Việt, cho nên có hiện tượng công chúa Ngọc Hoa, vợ của Thánh Tản (người anh cả) không được đề cao ngang hàng với Tam vị Tản Viên Sơn Thánh, dù rằng ở một só làng nơi giáp ranh giữa Sơn Tây, Ba Vì, Phú Thọ vẫn có những lễ hội đề cao Ngọc Hoa. 

Văn tế, sự sắp xếp các ngai thờ, nghi lễ, tự khí... mà chúng tôi khảo sát tại những ngôi đền thờ Thánh Tản ở vùng xung quanh núi Ba Vì càng góp phần làm sáng tỏ cho những nhận định trên đây. 

Chử Đạo Tổ: 

Nếu như ở huyền thoại Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, người ta có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa cổ xưa nhất của tín ngưỡng chất phác, nguyên thủy bằng cách bóc tách những lớp trầm tích tiềm ẩn trong văn bản thần tích thì với huyền thoại Chử Đồng Tử, công việc trở nên rất khó khăn. Huyền thoại Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm. Cốt lõi huyền thoại cũng như tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thần tiên để tế độ và truyền dạy cho người khác. Dân gian tôn vinh Chử Đồng Tử là Chử Đạo Tổ là vì thế.

Khảo sát hệ thống thờ tự ở đền chính thờ Chử Đồng Tử ở Đa Hòa, chúng tôi thấy, từ rất xa xưa, ở đó đã có ba pho tượng đồng và ba pho tượng đất mà cứ vị ngồi ở giữa là Chử Đạo Tổ, hai vị ở hai bên là Tiên Dung và Nội Trạch Tây Cung. Ở đình Tự Nhiên (huyện Thường Tín, Hà Tây), đối diện với Đa Hòa qua sông Hồng, khi mở hội cũng rước ba cỗ long kiệu ba vị kể trên. 

Mặc dù vậy, nếu xuất phát từ cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ thì trong số ba vị này, chỉ có Chử Đồng Tử, là thuộc về Tứ bất tử, của tâm thức dân gian Việt Nam. 

Thánh Gióng
là vị “anh hùng độc lập” trong Tứ bất tử. 

Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Liễu Hạnh và quá trình hội nhập vào Tứ bất tử:

Trước kia, khi Liễu Hạnh chưa xuất hiện (giáng thế) thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là một trong Tứ bất tử có lẽ là từ những “tiêu chí” sau đây:

- Cả hai vị đều “giáng sinh” trong một triều đại sớm của lịch sử Việt Nam.

- Từ hai vị này đều làm nảy nở những câu chuyện đậm màu sắc Đạo giáo - một tín ngưỡng sớm đến với Việt Nam và có nhiều khả năng hội nhập với tín ngưỡng bản địa. 

- Hai vị này đều hóa thân sau khi mất, và đầu thai thành nhiều kiếp.

Khi Liễu Hạnh “giáng sinh” vào khoảng thế kỷ XVI cũng chính là lúc ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái. Thực trạng xã hội loạn lạc, chiến tranh giết tróc, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, khao khát cháy bỏng về một cõi tâm linh an lạc, siêu thoát. Phật giáo và Đạo giáo có cơ phát triển trong dân gian. Về Phật giáo, quan niệm Tịnh Độ tông với lối sống từ bi hỷ xả, với phương thức thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, với tính chất dung hòa và phổ cập đã trở nên thắng thế và phổ biến trong suốt các thế kỷ XVI và XVII. Còn Đạo giáo, với những bùa chú, phép thuật, với những lối hành đạo phức tạp bởi những biểu tượng đã nhiều lúc trở thành cứu cánh để người ta tìm về làm chỗ dựa và nuôi dưỡng niềm tin về sự giải thoát. Nội Đạo tràng ra đời vào lúc này và sớm trở nên thịnh hành, được vua Lê thừa nhận. Tín ngưỡng tam phủ, mà trung tâm là thờ Mẫu hình thành và phát triển khá nhanh.
Liễu Hạnh “giáng thế” đáp ứng nhu cầu thỏa mãn tâm linh của mọi giai tầng trong xã hội, phù hợp với tâm thức dân gian Việt Nam. Nếu so với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không thì sự phụng thờ Liễu Hạnh bắt nguồn sâu xa từ trong tín ngưỡng thuần Việt của tâm thức dân gian, rồi lại xâm thực và hòa đồng vào tín ngưỡng Tứ phủ, nên tín ngưỡng này mang nhiều hơi hướng thời đại, cập nhật và phù hợp với thực tại. Ra đời trong thời kỳ đó, và với vai trò như vậy, việc tín ngưỡng Liễu Hạnh trở thành trung tâm của tín ngưỡng Tứ phủ và hội nhập với Tứ bất tử, trở thành biểu tượng của sự trường tồn là một điều dễ hiểu. 

Từ đó đến nay, tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ luôn luôn là một trong những trung tâm tín ngưỡng của tâm thức dân gian. Ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh mang tính bao trùm, có phạm vi rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không là điều đã khẳng định trong dân gian. 

Tóm lại, trong tâm thức dân gian Việt Nam từng có Tứ bất tử. Các vị từng được coi là có chân trong Tứ bất tử gồm:

- Tản Viên Sơn thánh (3 anh em)
- Chử Đạo Tổ
- Thánh Gióng
- Thánh Láng Từ Đạo Hạnh
- Nguyễn Minh Không
- Thánh Mẫu Liễu Hạnh
 
Qua thời gian, cùng với sự xuất hiện những yếu tố mới, mang tính thời đại về tư tưởng, triết lý, quan niệm thì niềm tin, tín ngưỡng, quan niệm về Tứ bất tử có sự thay đổi, dẫn đến việc Thánh Mẫu Liễu Hạnh thay thế Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đứng vào hàng Tứ bất tử như là một tất yếu.

Tuy nhiên, những cắt nghĩa trên đây chỉ là những nét phổ quát nhất, trên mặt bằng tín ngưỡng của dân gian trong phạm vi rộng lớn, mang đặc điểm chung nhất. Ở một số nơi, một số vùng, quan niệm tín ngưỡng vẫn có những nét riêng, và tất nhiên, không phổ biến và chỉ có ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ, hẹp. 

Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam.

Nguồn: Thông báo Hán Nôm học 1996


HÀ NỘI: DI TÍCH BỊ TÀN PHÁ NHIỀU, DO LỖ HỔNG NHẬN THỨC CỦA QUAN CHỨC

Unknown | 8:09:00 AM | 0 comments
Di tích Hà Nội liên tục bị xâm hại: 
Lỗ hổng từ quản lý đến nhận thức
Chủ Nhật, 06/04/2014 11:01

(Thethaovanhoa.vn) - Khi vụ việc của chùa Trăm Gian, làng cổ Đường Lâm, chùa Chàng Sơn vừa lắng xuống thì từ đầu năm đến nay, trên địa bàn Hà Nội liên tục xảy ra tình trạng xâm hại di tích. Thời gian ngắn, số lượng vụ xâm hại nhiều với các mức độ nặng nhẹ khác nhau, khiến người ta đặt câu hỏi về công tác quản lý di tích và nhận thức của những người liên quan.

3 tháng, 5 vụ “lình xình” liên quan di tích

Từ đầu năm đến nay, thời gian vỏn vẹn ba tháng nhưng có tới 5 vụ xâm hại hoặc tác động không tốt đến di tích. Như việc tự ý đưa tượng Phật Dược Sư vào di tích lịch sử Quốc gia chùa Bà Đá (quận Hoàn Kiếm); tự ý đưa và tiếp nhận ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt vào di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt đền Phù Đổng (huyện Gia Lâm); lấy trộm 4 thanh gỗ sưa ở Quán thờ thôn Cựu Quán (huyện Hoài Đức) đem bán; tự ý thay đổi một số thiết kế và thi công chưa đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật tại đình Quang Húc (huyện Ba Vì) và xây dựng bình phong không đúng mỹ thuật rồi tự ý phá bỏ khi cơ quan chức năng yêu cầu tạm dừng thi công tại lăng Ngô Quyền (thị xã Sơn Tây). 

Nhà 3 tầng ở làng cổ Đường Lâm

Các vụ việc trên không chỉ gây bức xúc trong dư luận mà chính các cơ quan quản lý văn hóa cũng đau đầu giải trình, rồi sửa sai. Sau đấy, tất cả di tích trên đều đưa về nguyên trạng ban đầu nhưng vẫn như một tấm áo vá vai hoặc để lại vết mờ sau khi đã tẩy rửa.

Lý do không thể phủ nhận là công tác quản lý của các cơ quan chức năng còn hạn chế, buông lỏng, tạo lỗ hổng để các vi phạm liên tục diễn ra. Theo quyết định 12 của UBND thành phố Hà Nội về điều chỉnh phân cấp một số vấn đề kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố, thì các di tích trên thuộc sự quản lý của các quận, huyện, thị xã. Tại các di tích đều có Ban quản lý với sự tham gia của chính quyền địa phương, các đoàn thể và người trông coi di tích.

Với cơ cấu nhân lực như vậy, cộng với hàng năm quận, huyện, thị xã đều tập huấn Luật Di sản văn hóa, các thông tư, quy định tới những người liên quan thì không thể nói thiếu hành lang bảo vệ di tích. Duy chỉ có điều, vi phạm vẫn cứ xảy ra và đến lúc đấy, các cơ quan chức năng mới giật mình. Điều đó có thể hiểu, chính quyền địa phương thiếu sâu sát trong công tác quản lý, giám sát chưa chặt chẽ khiến các di tích bị xâm hại hoặc bị tác động không tốt.

Pho tượng được giống sư trụ trì Thích Minh Phượng chùa Chân Long tại Chàng Sơn

Về phía cơ quan quản lý Nhà nước về di tích, ông Trương Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội cũng thừa nhận: “Sở cũng có một phần trách nhiệm, bởi khâu tham mưu của ngành với các cơ quan quản lý cao hơn chưa kịp thời, công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, liên tục”.

Khi công tác quản lý còn nhiều lỗ hổng thì nhận thức của những người liên quan trong việc bảo tồn di tích cũng chưa tốt, từ người trong ban quản lý, người trông coi di tích và cả những người dân. Họ nghĩ đơn giản, có người hảo tâm tiến cúng hiện vật thì tiếp nhận, đồ thờ tự muốn thì đưa vào di tích, thay đổi thiết kế trong trùng tu di tích cũng không ảnh hưởng gì… Thế nên, đơn vị thi công đình Quang Húc mới tự ý thay thanh xà ngang với hoa văn tinh xảo bằng một thanh xà mới theo kiến nghị của người dân, thay đôi nghê trên khám thờ bằng nghê mới có kích thước lớn hơn, thay các con kìm bằng đất nung trên mái đình thành con kìm xi măng… Mà những chi tiết này không có trong thiết kế đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thỏa thuận.
Rồi chuyện đưa ngựa sắt, áo giáp sắt, roi sắt vào đền Phù Đổng được xin phép UBND xã Phù Đổng mà xã lại không báo cáo lên huyện Gia Lâm nên cả huyện, thành phố và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch không biết. Trong khi đó đền Phù Đổng là di tích cấp Quốc gia đặc biệt, việc đưa hiện vật vào di tích phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ. Hay ông Trưởng thôn, Ban khánh tiết và thủ từ trông nom Quán thờ thôn Cựu Quán dỡ mái Quán thờ lấy bốn thanh gỗ sưa bán với giá 1,2 tỷ đồng không công khai dân chủ, thống nhất với nhân dân trong thôn.

Giải pháp nào hạn chế sự xâm hại di tích

Di tích vốn là nơi chứa đựng tín ngưỡng tâm linh của nhân dân, do vậy, các vụ việc xâm hại đến di tích thời gian qua không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến di tích, vi phạm Luật Di sản Văn hóa còn gây bức xúc trong nhân dân. Để bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích, ông Trương Minh Tiến, Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội cho biết: Tới đây, Sở tham mưu cho thành phố quản lý tốt hơn các di tích trên địa bàn, thực hiện tuyên truyền rộng rãi Luật Di sản Văn hóa cho chính quyền cơ sở, cộng đồng dân cư để nhân dân cùng hiểu, cùng nhau bảo tồn di tích. 

Tượng Phật Dược Sư vào di tích lịch sử Quốc gia chùa Bà Đá (quận Hoàn Kiếm)

Trong quá trình tuyên truyền Luật, cần điều chỉnh nội dung, chọn nội dung liên quan đến quản lý di tích để các xã, phường, thị trấn và người trông nom di tích, người dân hiểu rõ hơn nghĩa vụ của mình. Làm thế nào để vận động nhân dân tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di tích và đó cũng là mục tiêu quan trọng trong bảo tồn di tích. “Tới đây chúng tôi cũng tham mưu cho Thành phố ban hành nội dung cụ thể về quản lý di tích, trách nhiệm của sở, ngành, quận, huyện, thị xã, phường, xã để triển khai đồng bộ trên toàn thành phố” – Ông Trương Minh Tiến nhấn mạnh.

Qua các sự việc trên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội cần tăng cường hơn nữa việc quản lý di tích, tiếp nhận, tu sửa đồ thờ tự trong di tích. Sở sẽ phối hợp với các địa phương kiểm kê, xác nhận từng di tích về hiện trạng để cố gắng giữ lại yếu tố gốc. Trong khi chờ quy chế nâng cao hiệu quả quản lý di tích trên địa bàn, Sở cũng yêu cầu các địa phương không tiếp nhận hiện vật mới khi chưa biết hiện vật đó có phù hợp với di tích hay không, địa phương nào cố tình vi phạm sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm. Đặc biệt, các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp trong tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích, cung tiến hiện vật cũng cần tìm hiểu việc mình làm có phù hợp với giá trị di tích, phù hợp với Luật Di sản Văn hóa hay không?

“Con thú lạ” trên bình phong ở lăng Ngô Quyền. Ảnh: Phạm Mỹ

Vẫn biết việc bảo tồn tốt di tích trên cơ sở xiết chặt quản lý, thay đổi nhận thức của người liên quan còn lâu dài, nhưng các sự việc xảy ra vừa qua chính là bài học để các nhà quản lý văn hóa giám sát, kiểm tra chặt chẽ hơn.

Đinh Thị Thuận