Showing posts with label chống Trung Quốc xâm lược. Show all posts
Showing posts with label chống Trung Quốc xâm lược. Show all posts

Lực lượng vũ trang không được phản đối Trung Quốc?

Unknown | 1:30:00 AM | 0 comments

Võ Văn Tạo

clip_image002

Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh tỉnh Khánh Hòa.

Sáng 19-5-2014, tại TP Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), nhân kỷ niệm 55 năm (19-5-1959/19-5-2014) ngày mở đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn huyền thoại, Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh TP Nha Trang tổ chức mít tinh gặp mặt để ôn lại và phát huy truyền thống hào hùng của Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh. Nhận giấy mời của ban tổ chức, nhiều cơ quan thông tấn cử phóng viên đến tác nghiệp.

Gần 200 hội viên, phần lớn đã nghỉ hưu, cùng nhiều đại biểu là sĩ quan cao cấp, quân hàm đại tá, thượng tá - lãnh đạo các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn (Học viện Hải quân, Trường SQ không quân, Học viện thông tin, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh…) tham dự. Các sĩ quan đang tại ngũ, tất nhiên diện quân phục có quân hàm. Một số hội viên đã nghỉ hưu cũng diện quân phục với quân hàm, huân huy chương lấp lánh, trông khá oai phong khí thế, tạo không khí xúc động và cho cảm giác yên tâm phần nào, trông cậy ở sức mạnh và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của bộ đội ta, trong giờ phút sục sôi căm giận nhà cầm quyền Trung Quốc gây hấn hết sức căng thẳng ở Biển Đông hiện nay, qua vụ khiêu khích với giàn khoan HD981.

Thế nhưng, điều hết sức kỳ cục và khó hiểu đã xảy ra: hết phần kỷ niệm truyền thống, cuộc mít tinh chuyển sang nội dung nóng bỏng và hết sức thời sự: phản đối Trung Quốc gây hấn, đòi giàn khoan Trung Quốc rút ngay khỏi vùng biển Việt Nam. Trước khi bắt đầu nội dung này, đại diện ban tổ chức bất ngờ yêu cầu các đại biểu, hội viên mặc quân phục có quân hàm ra khỏi hội trường và cho biết: đây là tình tiết “nhạy cảm”. Dĩ nhiên, tôn trọng ban tổ chức và sẵn tập tính chấp hành tuyệt đối của nhà binh, tất cả đại biểu và hội viên mặc quân phục lập tức rời khỏi hội trường, ra hành lang đứng đợi.

clip_image004

Phần mít tinh truyền thống (có quân hàm).

clip_image006

Phần mít tinh phản đối Trung Quốc (không quân hàm).

Không bất ngờ, một số phóng viên cho biết, đây là chủ trương từ “trên”, đã được Ban Tuyên giáo “quán triệt” đến lãnh đạo các cơ quan truyền thông. Khi tác nghiệp các cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc, không được để “dính” hình ảnh lực lượng vũ trang.

*

Vẫn biết, trong sự kiện Trung Quốc ngang ngược đưa giàn khoan, tàu chiến, tàu hải giám, phi cơ quân sự, tàu cá xâm nhập trái phép vùng biển của ta, nhà nước Việt Nam chủ trương kìm chế, chỉ huy động các cơ quan chấp pháp, các phương tiện, thiết bị dân sự để xua đuổi, kết hợp với các tuyên bố và hoạt động ngoại giao phản đối, lên án Trung Quốc ngang ngược xâm lấn, gây mất ổn định an ninh hòa bình khu vực và thế giới. Trước mắt, đó là điều có thể chấp nhận, trong tình huống Trung Quốc chưa nổ súng khai chiến, tương quan phương tiện, vũ khí ta – địch quá chênh lệch, Việt Nam lại chẳng là đồng minh hay thành viên của cường quốc hoặc khối quân sự nào.

Tuy nhiên, việc yêu cầu không để hình ảnh lực lượng vũ trang “dính” vào khuôn hình, tại các cuộc mít tinh tại chỗ có tính chất ôn hòa để phản đối Trung Quốc gây hấn, chẳng biết có thực sự cần thiết? Chủ trương như thế, liệu có thể hiện tư tưởng khiếp nhược quá đáng trước giặc xâm lược? Ai là kẻ “phát minh” cái “sáng kiến” quái đản này? Làm sao tránh được tình huống, khi đọc báo, xem tivi các cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc hiếp đáp, người dân thắc mắc: tình thế nước sôi lửa bỏng, Tổ quốc lâm nguy, bộ đội ta ở đâu?

Và điều cốt tử, ngộ nhỡ một mai, tình huống ta không mong muốn vẫn cứ xảy ra, buộc Việt Nam phải lâm chiến tự vệ, bộ đội ta có còn khí thế đánh giặc?

V.V.T.

Tác giả gửi BVN

Sự lựa chọn của lịch sử

Unknown | 1:21:00 AM | 0 comments

Với mỗi con người, không ai chọn cửa để sinh ra, cha mẹ và anh em thế nào thì phải chịu thế nấy, nhưng có thể chọn bạn bè để chơi, chọn vợ, chọn chồng; khi gặp láng giềng bất hảo, có thể bán nhà, đổi cửa để tìm hàng xóm và không gian phù hợp.

clip_image001

Công nhân tuần hành phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc khi đặt giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng biển của Việt Nam (ảnh minh họa) - Ảnh: Lê Lâm

Với một đất nước, không ai chọn được láng giềng theo ý muốn. Gặp phải lân bang xấu bụng, ác tính, không thể bán nước hay dời quê. Cha ông mình chỉ còn cách duy nhất: “Tự lực, tự cường, dám là mình và chấp nhận đối mặt, không để họ ức hiếp”.

Việt Nam là một dân tộc lạ lùng. Sống cạnh người hàng xóm khổng lồ, tham lam mà mấy ngàn năm vẫn vững bền. Cả ngàn năm bị xâm lược, cố tình đồng hóa vẫn kiên cường độc lập. Chữ Nôm và tiếng Việt vẫn ngạo nghễ cạnh chữ Hán, tiếng Tàu. Áo dài vẫn hiên ngang và duyên dáng cạnh xường xám. Nước mắm vẫn nồng nàn hương vị cạnh xì dầu. Tiếng Việt là ngôn ngữ duy nhất ở châu Á có cách viết riêng kiểu chữ La Tinh với mấy dấu bé tẹo mà cực kỳ phức tạp. “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”.

Chưa có dân tộc nào mà lịch sử lại khốc liệt như Việt Nam. Cả phụ nữ và trẻ em cũng sát vai đánh giặc giữ làng, giữ nước. Dẫu phải thường xuyên đánh giặc nhưng đó là chuyện chẳng đặng đừng, bị dồn vào chân tường. Chính những dân tộc thường xuyên bị chiến tranh là những dân tộc yêu chuộng hòa bình và không dễ gì bắt nạt. Đánh giặc, chống ngoại xâm, giữ vững độc lập đã khó nhưng khó nhất là giữ được bản sắc của dân tộc trước nạn diệt chủng văn hóa tàn bạo của phong kiến phương Bắc.

Từ thế kỷ X, Đinh Tiên Hoàng (924 - 979) đã dõng dạc tuyên bố “Cồ Việt quốc đương Tống khai bảo. Hoa Lư đô thị Hán Tràng An” (Nước Đại Cồ Việt sánh ngang nước Tống. Kinh thành Hoa Lư tựa Tràng An, Trung Quốc). Câu đối này được thờ trang trọng trong đền vua Đinh ở Ninh Bình.

Hơn nửa thế kỷ sau, trong “Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên”, Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) lại đanh thép khẳng định “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành phân định (chứ không phải định phận) tại sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời”.

Thế kỷ XIII, vó ngựa Nguyên Mông đi tới đâu thì cỏ không mọc nổi. Đạo quân của Thành Cát Tư Hãn làm bá chủ từ Âu sang Á. Vậy mà 3 lần xâm lược Việt Nam, là 3 lần đại bại, rồi suy vong. Có người Trung Quốc thời đó cảm thán rằng “Nếu dân tộc Đại Việt ở phương Bắc thì vó ngựa Nguyên Mông không thể dẫm nát châu Âu. Nếu Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh ra thời nhà Tống thì người Trung Quốc không bị đô hộ cả trăm năm”. Thời đó, người dân Việt, qua Trần Bình Trọng (1259 - 1285) đã xác định tâm thế “Thà làm quỷ nước Nam, hơn làm vương đất Bắc”.

Đầu thế kỷ XVII, khi bị Minh Tự Tông hoạch họe và uy hiếp bằng câu đối “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Cột đồng nay đã rêu xanh), mượn ý Mã Viện xưa “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” - Trụ đồng ngã, Giao Chỉ bị diệt). Trước mặt bá quan văn võ nhà Minh, sứ thần Giang Văn Minh (1573 - 1638), dù “Tiên đối dị, đối đối nan” (ra câu đối thì dễ, đối lại mới khó), đã sang sảng đáp trả “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa đỏ vì máu).

Xuân Kỷ Dậu 1789, cả nước Việt lại đồng lòng quyết chí “Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (Hịch tướng sĩ của Quang Trung), quét sạch 300.000 quân Thanh và tùy tùng xâm lược. Khí phách đó vẫn tiếp tục duy trì khi chống Pháp với Nguyễn Trung Trực (1839 - 1868): “Chừng nào nhổ hết cỏ trên trái đất thì may ra mới trừ tiệt được những người nước Nam đánh Tây”. Khi quê hương bị xâm lược thì cả nước đồng lòng xung trận, đoàn kết xả thân vì đất Mẹ, thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Lời thề “Quyết chiến, chiến đến cùng!” của Hội Nghị Diên Hồng chống Nguyên Mông và quyết tâm “Còn cái lai quần cũng đánh” của anh hùng Nguyễn Thị Tịch (1931 - 1968)… đã nói lên tinh thần bất khuất và hào khí Đại Việt.

Năm 1986, tại khu di tích địa đạo Củ Chi có cuộc tọa đàm giữa các giáo sư, các nhà sử học và đại biểu đoàn Con Tàu Hòa Bình (Peace Boat) Nhật Bản. Khi nghe Bí thư huyện ủy Củ Chi Mười Nguyên kể chuyện kháng chiến “Dân cả vùng phải chui xuống đất để sống, làm việc, học tập và chiến đấu”. Một giáo sư Nhật Bản dè dặt hỏi: “Thế các ông dạy học sinh những gì trong lòng đất ngột ngạt?”. “Cực kỳ khó khăn và gian khổ. Sống đã khó. Để học tập còn khó hơn. Chúng tôi chỉ dạy các em được 3 môn. Học văn để biết làm người. Học toán để hiểu khoa học. Học sử để có niềm tin. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh là bất cứ kẻ thù nào, dù hùng mạnh và tàn bạo đến đâu, vào xâm lược Việt Nam cũng đều thảm bại. Nhờ niềm tin đó, chúng tôi chiến thắng”.

Cả đoàn gật gù và vỗ tay tán thưởng. Các đại biểu Việt Nam cũng lâng lâng tự hào bởi sự chân thực giản dị và bản lĩnh sâu sắc của người chỉ huy du kích năm xưa. Càng thấm thía vai trò của lịch sử trong sự phát triển của đất nước và xã hội.

Năm 1987, được Thành Đoàn cử đi tu nghiệp ở Cộng hòa dân chủ Đức, tôi càng phát hoảng khi biết rằng “Đông Đức (và các nước XHCN) chủ yếu chỉ dạy lịch sử nước Đức mới, từ năm 1945. Trong khi Tây Đức và các nước tư bản thì dạy lịch sử rất cặn kẽ”. Cái chết đã được báo trước một khi dám xem thường lịch sử. Năm 1989, Đông Âu sụp đổ vì nhiều nguyên nhân nhưng chắc chắc có việc coi khinh môn Sử.

Việc Trung Quốc ngang ngược trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là không thể chấp nhận. Một hay mười giàn khoan cũng vậy. Đó là bản chất. Thành ngữ Trung Quốc có câu “Giang sơn dị cải, bản tính nan di” (Sông núi có thể cải tạo, san lấp; bản tính thì rất khó). Đừng hy vọng hão huyền về sự đổi thay của những người mang dòng máu Đại Hán. Điều chỉnh quan hệ đối ngoại, đoàn kết với các nước đang bị Trung Quốc gây sự, tìm bạn chí cốt thật sự và kiên quyết kiện ra tòa án quốc tế. Trung Quốc sẽ bị cô lập và buộc phải chấm dứt những trò đểu với láng giềng. Từ xưa, dân tộc Việt Nam đã không dễ gì bị bắt nạt và luôn cảnh giác. Không phải tự nhiên mà đền thờ các anh hùng dân tộc Việt Nam đều quay về hướng Bắc.

Nguyễn Văn Mỹ (*)

* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Lửa Việt

Nguồn: thanhnien.com.vn

Cuộc đối đầu Trung - Việt sẽ kết thúc cách nào?

Unknown | 9:04:00 PM | 0 comments

Hội thoại trên ChinaFile (05.09.14)

DANIEL KLIMAN, ELY RATNER, ORVILLE SCHELL, SUSAN SHIRK, CARLYLE A. THAYER

Phan Văn Song dịch

Daniel Kliman:

Cách Ukraina 5 000 dặm, ngoài khơi bờ biển Việt Nam (VN), Trung Quốc (TQ) đang làm theo một trang trong cuốn sách bày trò của nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin. Việc Bắc Kinh mới đây đặt một giàn khoan dầu khổng lồ trong vùng biển tranh chấp ở biển Đông là dùng cùng một kiểu chiến thuật. Ở Ukraine, Nga nhắm vào một đối thủ yếu trên biên giới của họ, không là đồng minh của Mỹ, sử dụng lực lượng bán quân sự để tránh phô vẻ xâm lược lộ liễu càng lâu càng tốt. Ở biển Đông, Bắc Kinh đang cố áp đặt yêu sách lãnh thổ đối với VN, một nước láng giềng thua kém về quân sự và không có liên minh với Mỹ để dựa. Bắc Kinh, giống như Moscow, cũng đã triển khai lực lượng một cách mờ đục, phủ nhận rằng đội tàu gồm 80 chiếc đi hộ tống giàn khoan không có bất kỳ tàu quân sự nào.

Ở Krym (Crimea), hình thức xâm lược xám đã thành công, nhưng ở biển Đông, có thể không như vậy. Được mất cho TQ là rất lớn, bắt đầu với việc kiểm soát các nguồn tài nguyên năng lượng và kết thúc với một mục tiêu xa hơn nhưng lại hấp dẫn – tạo ra một trật tự mới ở châu Á. Tuy nhiên, được mất trong ngắn hạn cho VN là cao hơn nhiều: chủ quyền và lòng tự trọng. Và TQ đang cố làm theo sách của Putin cho một mục tiêu khó khăn hơn. VN, trái với Ukraine, không gặp khó khăn do chia rẽ nội bộ, và chính phủ gần đây đã đầu tư vào việc nâng cấp quân sự.

Việc VN đã không né tránh leo thang trong quá khứ, và thề sẽ "áp dụng mọi biện pháp cần thiết và phù hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình" phải được xem xét một cách nghiêm túc. Có khả năng VN lần đầu tiên sẽ đưa vụ việc giải quyết qua luật pháp quốc tế và qua Hiệp hội các nước Đông Nam Á mà VN là một thành viên. Nhưng nếu các bước như thế thất bại và TQ cứ lấn tới với việc khoan dầu thì một cuộc đối đầu quân sự không phải là không thể xảy ra. TQ có khả năng sẽ thắng trong cuộc đụng độ vũ trang, nhưng nó lại có thể cho thấy là một chiến thắng trống rỗng, đẩy các láng giềng sợ sệt của Bắc Kinh tăng cường quân đội và tìm kiếm quan hệ càng gần gũi hơnvới Hoa Kỳ.

Trả lời

Ely Ratner:

Dù rõ ràng là đầy kịch tính và nghiêm trọng, bế tắc hiện nay giữa TQ và VN có lẽ là ít nguy hiểm hơn so với một cuộc khủng hoảng tương tự ở nơi khác tại châu Á. Trước hết, chính phủ hai nước có quan hệ chặt chẽ và tương đối tốt, khác xa với sự thù nghịch và sự trao đổi thông tin tồi, đặc trưng cho mối quan hệ hiện nay của Bắc Kinh với Manila và Tokyo.

Ngoài ra, VN không phải là một đồng minh hiệp ước phòng thủ của Hoa Kỳ, điều này loại đi các yếu tố phiêu lưu, tính toán sai lầm và leo thang đang che một bóng đen đáng ngại lên các tranh chấp biển của TQ với Nhật Bản và Philippines. VN tự mình, và kế đó ASEAN với cương vị một tổ chức, có khả năng thủ vai như là những nhân vật chính nổi bật nhất ngay trước khi Hoa Kỳ đóng một vai trò tích cực và quyết định.

Tuy nhiên, sự kiện này làm lộ rõ hai nét hành vi nổi bật trong chính sách đối ngoại của TQ vốn rất đáng ngại.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản TQ có vẻ ngày càng không thể dung hợp được các mục tiêu chính trị và kinh tế chủ đạo về việc đảm bảo mục tiêu chủ quyền của họ trong khi vẫn duy trì một môi trường an ninh hòa bình trong khu vực. Có nhiều hy vọng (ngay cả khi dựa vào khát vọng nhiều hơn là phân tích) rằng Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ chú trọng các chính sách kết hợp hài hoà hơn các mục tiêu mâu thuẫn nhau này. Niềm hy vọng này được củng cố bởi bài phát biểu đang gây tiếng vang của ông về "chính sách ngoại giao ngoại vi" hồi tháng 10 năm 2013, bài này có vẻ để mào đầu việc quay trở lại chính sách tấn công quyến rũ từng xác định cách TQ tiếp cận Đông Nam Á vào giữa thập niên năm 2000.

Nhưng điều đó chưa lộ ra mà thay vào đó chúng ta lại thấy TQ dính dáng vào các hành động thô lỗ và vụng về làm dấy lên lo ngại không chỉ ở Tokyo và Manila mà còn ở Kuala Lumpur, Jakarta và bây giờ là Hà Nội. Cuối cùng, điều này có nghĩa là các mệnh lệnh quan liêu và chính trị trong nước đang vượt lên trên logic chiến lược ở Bắc Kinh, một sự phát triển nguy hiểm đối với những ai bên ngoài đang hy vọng rằng chi phí và lợi ích tương đối (không phải chính trị và chủ nghĩa dân tộc) sẽ định hình các quyết định của TQ đối với các tranh chấpvề lãnh thổ.

Thứ hai, sự cố giàn khoan dầu có nghĩa là cuối cùng chúng ta có thể ngưng lại việc bàn luận về sự quyết đoán của TQ là có tính đáp trả. Điều này là phù hợp cho hai năm trước hơn, khi Nhật "quốc hữu hoá" quần đảo Senkaku và Philippines sử dụng một tàu hải quân tại Scarborough Reef đã đẩy TQ đi vào hành động. Vào thời điểm đó, các quan chức TQ đã nhanh chóng chỉ ra rằng các nước khác đã thực hiện bước đầu tiên. Và các đáp trả của TQ bị phê phán chủ yếu ở chỗ chúng không cân xứng và leo thang, nhưng không nhất thiết là vô cớ.

Lý do này không còn phù hợp. Mặc dù chính Chủ tịch Tập Cận Bình tiếp tục khẳng định rằng TQ chỉ đơn giản là đáp trả với các hành động khiêu khích của những nước khác, điều này bây giờ lại là một sai lầm thực nghiệm (empirical fallacy) sau việc TQ công bố vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông cuối tháng 11 và bây giờ khẳng định về chủ quyền chống lại VN. Thay vì chờ cho có cớ để xốc lên tuyên bố chủ quyền của mình, bây giờ TQ đang thực hiện trước những bước đi mà không có hành động khiêu khích nào.

Hai yếu tố phiền hà này vẽ lên bức tranh của một nước mà chính sách đối ngoại lại không bị ràng buộc theo logic chiến lược và ngày càng can dự vào chủ nghĩa xét lại ngăn chặn trước. Đó không phải là tin tốt cho hòa bình và ổn định trong vùng biển châu Á.

Orville Schell

Điều rối ren nhất về các xung đột mới nẩy sinh gần đây từ các tranh chấp trên biển ở biển Hoa Đông và biển Hoa Nam (giữa TQ và Nhật Bản, Philippines, VN, Brunei, Malaysia, và bây giờ cả Indonesia) là chúng liên quan đến vấn đề chủ quyền. Đây là một vấn đề nghiêm trọng bởi vì, ít ra đối với TQ, câu hỏi về "toàn vẹn lãnh thổ" là không được phép thỏa hiệp, nghĩa là còn rất ít chỗ để cho các nhà ngoại giao thương lượng, thậm chí còn ít hơn nhiều cho thỏa hiệp. Sự cứng nhắc này, có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử, được nuôi dưỡng bằng việc TQ cực kỳ nhạy cảm với các vấn đề mà họ coi là dính dáng đến chỉ một chút xâm phạm lãnh thổ.

Một trong những yếu tố khá riêng biệt của chính sách mới về đối ngoại tiến tới của Tổng Bí thư Tập Cận Bình là tư thế phát triển vượt khỏi cái có thể được gọi là thái độ "không bao giờ lần nữa" của TQ xuất phát từ và là một phần quan trọng của "giấc mộng TQ", cụ thể là sau hơn một thế kỷ chịu đựng sự xâm lấn, nửa thực dân, chiếm đóng nước ngoài, "hiệp ước bất bình đẳng" và các hình thức cướp bóc, chèn ép khác do các cường quốc mạnh hơn thực hiện, bây giờ TQ hùng mạnh, họ sẽ không bao giờ cho phép chính mình thỏa hiệp (đặc biệt là dưới áp lực của "các cường quốc lớn") trong các câu hỏi về toàn vẹn lãnh thổ.

Nhưng, như những người khác trong cuộc thảo luận này đã lưu ý, làm cho vấn đề thậm chí còn khó giải quyết hơn, tư thế cơ bắp mới của TQ trong việc đối đầu các nước láng giềng dường như được khuyến khích, ít ra là gián tiếp bởi thái độ hung hăng, thậm chí hiếu chiến của Putin về việc giành lại những gì ông ta xem là lãnh thổ hợp pháp của Nga ở Ukraine. TQ và Nga chưa kí bất kỳ hiệp ước chính thức nào. Và các nhà lãnh đạo TQ lại rất hai mặt về việc bất kỳ quốc gia nào đơn phương xâm lược nước khác (vì e rằng điều đó mời gọi một cường quốc bên ngoài nào đó can thiệp vào tình hình đầy rắc rối của Tây Tạng, Tân Cương hoặc thậm chí Đài Loan). Tuy nhiên, có rất ít nghi ngờ rằng các nhà lãnh đạo TQ thấy rất đồng cảm với việc Putin thúc giục đứng lên chống phương Tây và Nhật Bản kiêu căng bất cứ lúc nào có thể.

Vì thái độ cao ngạo và thô bạo của phương Tây trước nhất với các nước "khối Cộng sản" và sau đó thái độ kẻ cả của chúng ta với các phong trào sau cải cách và "hậu Perestroika" mà cuối cùng chuyển thành các hệ thống chính trị độc tài Lênin hiện đại ở cả Bắc Kinh và Moscow, có những tích chứa to lớn về sự oán hận lịch sử đối với các nước thuộc về cái được gọi là "thế giới tự do" trong Chiến tranh Lạnh. Dù các nhà lãnh đạo TQ và Nga vẫn cảnh giác lẫn nhau và sự cảnh giác này có từ những ngày đầu tiên thời Mặt trận Thống nhất của Tôn Dật Tiên với Quốc tế thứ ba và sự khúm núm miễn cưỡng về sau của Mao Trạch Đông đối với Liên Xô như là "anh cả xã hội chủ nghĩa", bây giờ họ đi tới chuyện chia sẻ cái mà chúng ta có thể mô tả như là một tình anh em cùng cảnh ngộ "nạn nhân văn hoá/chủng tộc" (victim kultur). Các nhà lãnh đạo của cả hai nước này tự xem mình như là bị "phương Tây" và Nhật Bản gây khổ ải sâu đậm, và do đó có khuynh hướng tự nhiên muốn chứng tỏ với thế giới, bất cứ khi nào có thể, rằng họ sẽ không những không còn tự cho phép mình bị hiếp đáp, bắt nạt, áp lực hoặc bị đẩy vòng quanh mà cũng sẽ không nản chí trong việc củng cố những gì họ xem là quyền lịch sử để củng cố và lấy lại những lãnh thổ đã mất.

Thật vậy, đây có thể là vết nứt mà một loại chiến tranh lạnh mới hậu Chiến tranh lạnh bắt đầu xuất hiện trên đó. Một liên minh như vậy có thể khá nguy hiểm, không phải vì Moscow và Bắc Kinh có rất nhiều lợi ích chung cụ thể thực sự (dù họ có biên giới chung dài 4000 dặm), nhưng vì họ chia sẻ một suối nguồn phổ biến và rất sâu sắc về cùng một nỗi ưu phiền có tính quốc gia. Và đôi khi, chính tình cảm chớm nở này tỏ ra mạnh mẽ hơn và gây rối hơn trong các vấn đề thế giới so với các tính toán cứng rắn từ lợi ích quốc gia thực sự.

Susan Shirk:

Chúng ta cần phải xem hành động của TQ với cặp mắt trong sáng. Orville này, tôi nghĩ rằng sẽ là sai lầm khi bẻ cong nhận thức của chúng ta bằng việc lôi ra các liên hệ giữa cách mà TQ hành xử ở châu Á với cách mà Nga xử sự ở châu Âu. Khu vực châu Á đã phức tạp lắm rồi không cần phải thêm vào đó các yếu tố không liên quan có thể chỉ có trong óc của chúng ta.

Có gì nổi bật hơn là điểm mà Ely Ratner nêu lên về cách đặt giàn khoan dầu khổng lồ ngoài khơi bờ biển VN, giống như thông báo về khu vực nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông, cho thấy TQ đang thực hiện các động thái cưỡng bức trước để khẳng định yêu sách chủ quyền biển, chứ không đơn thuần chỉ là hành động phản ứng lại. TQ bào chữa hành động của mình bằng cách nói rằng việc đưa giàn khoan để bắt đầu việc khoan thăm dò chỉ là một sự tiến triển bình thường từ công việc khảo sát địa chấn 2D và 3D mà họ đã làm trong khu vực này. Đó chắc hẳn là điều mà Công ty dầu mỏ, Tổng công ty dầu ngoài khơi quốc gia TQ (CNOOC), nói với những người ra quyết định ở Bắc Kinh. Nhưng do bản chất đầy tranh cãi về vị trí của nó – 15 hải lý ngoài khơi một trong những đảo của quần đảo Hoàng Sa mà TQ chiếm lấy bằng vũ lực từ Nam VN hồi năm 1974 và 120 hải lý ngoài khơi bờ biển chính của VN – và đội tàu lớn gồm 80 chiếc của chính phủ hộ tống giàn khoan khổng lồ này – đó chắc chắn không phải là làm công việc như bình thường.

Các nhà ngoại giao ở Bộ Ngoại giao TQ – đặc biệt là Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị từng thảo ra chiến lược rất thành công của TQ trấn an các nước châu Á về ý định thân thiện của TQ trong các năm 1996-2009 và đang cố gắng làm sống lại chiến lược này dưới chính quyền Tập Cận Bình hiện nay – đều phải nhận thức rõ rằng cách khẳng định chủ quyền ở tầm mức cao như thế sẽ kích động một phản ứng dữ dội ở các nước láng giềng đầy lo âu của TQ. Khi ASEAN họp vào tuần tới, các nước Đông Nam Á chắc chắn sẽ trỏ tay vào TQ, như Taylor Fravel dự đoán trong bài Q & A rất nhiều thông tin của ông với báo The New York Times. Nhưng tiếng nói của Bộ Ngoại giao không còn chiếm ưu thế quy trình làm ra chính sách đối ngoại.

Điều mà hành động của TQ phản ánh, như Ely Ratner nói, là khả năng rất nguy hiểm rằng chính sách an ninh TQ đã trở nên "không bị ràng buộc theo logic chiến lược". Nói cách khác, các nhóm lợi ích quan liêu trong nước và dư luận dân tộc chủ nghĩa đang lôi kéo theo hướng mở rộng quá mức yêu sách chủ quyền theo cách có thể gây tổn hại thực sự cho lợi ích tổng thể an ninh quốc gia của TQ.

Carlyle A. Thayer:

Có ba cách giải thích có thể có cho việc TQ quyết định triển khai giàn khoan dầu khổng lồ HD-981 tới lô 143 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của VN. Những cách giải thích này không nhất thiết là loại trừ lẫn nhau.

Cách giải thích đầu tiên thừa nhận rằng Công ty dầu ngoài khơi quốc gia TQ (CNOOC) quyết định tiến hành các hoạt động thăm dò thương mại ở những lô mà họ đã tổ chức đấu thầu để đáp trả việc VN thông qua Luật Biển hồi giữa năm 2012. Như Susan Shirk ghi nhận rằng CNOOC đã tiến hành khảo sát địa chấn và có thể cũng đã có những động tác theo dõi.

Cách giải thích này là có vấn đề khi đối chiếu với kích cỡ và thành phần của đội tàu TQ gồm 80 chiếc hộ tống giàn khoan dầu. Như Shirk ghi nhận rằng điều này "chắc chắn không phải là làm công việc như bình thường". Thật vậy, các nhà ngoại giao Bắc Kinh cho biết rằng các quan chức CNOOC được lệnh triển khai giàn khoan bất chấp sự nghi ngại của họ về chi phí hàng ngày cao và đánh giá về nguồn dự trữ dầu và khí đốt thấp ở lô 143.

Cách giải thích thứ hai cho rằng hành động của CNOOC là để đáp trả các hoạt động của Công ty dầu mỏ khổng lồ ExxonMobile của Hoa Kỳ trong các lô gần đó. Cách giải thích này có vẻ cũng khó có khả năng là cách giải thích đúng. ExxonMobile đã hoạt động tại lô 119 từ năm 2011 dù có các phản đối ban đầu của TQ. Vẫn chưa rõ làm thế nào mà các hoạt động của giàn khoan dầu TQ trong lô 143 sẽ ngăn chặn việc ExxonMobile hoạt động ở nơi khác.

Cách giải thích thứ ba nhấn mạnh những động lực địa-chính trị đằng sau hành động của TQ. Việc triển khai giàn khoan khổng lồ của CNOOC là một phản ứng hoạch định trước đối với chuyến thăm Đông Á gần đây của Tổng thống Barack Obama. TQ đã giận dữ bởi việc ông Obama ủng hộ cho cả Nhật Bản lẫn Philippines trong các tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh. Do đó, TQ tạo ra cuộc khủng hoảng giàn khoan để làm cho các nước trong khu vực thấy rằng Hoa Kỳ là một "con cọp giấy" và giữa lời nói và khả năng hành động của ông Obama có một khoảng cách.

Cách giải thích thứ ba nghe có vẻ hợp lí. TQ có thể làm để đạt tới điều họ nhắm tới rồi rút giàn khoan dầu khi nó đã hoàn thành sứ mệnh vào giữa tháng 8. Nhưng cách giải thích này nẩy sinh câu hỏi tại sao VN lại là tiêu điểm cho cuộc khủng hoảng này và lý do tại sao TQ lại hành động vào đêm trước của kỳ họp thượng đỉnh những người đứng đầu chính phủ / nhà nước của Hiệp hội các nước Đông Nam Á.

P.V.S.

Nguồn bản gốc: chinafile.com