Showing posts with label szymborska. Show all posts
Showing posts with label szymborska. Show all posts

Những đứa con của thời đại (Wisława Szymborska)

Unknown | 6:28:00 AM | 0 comments
Thái Linh dịch


Chúng ta là những đứa con của thời đại,
thời đại chính trị.

Mọi chuyện của anh, của chúng ta, của các bạn
chuyện ban ngày, chuyện ban đêm
Đều là chuyện chính trị.

Dù muốn dù không
các gen di truyền của anh vẫn mang quá khứ chính trị
da anh mang màu chính trị
đôi mắt anh mang cái nhìn chính trị

Mọi điều anh nói đều có tiếng vang,
Mọi sự lặng im của anh đều là thông điệp
Đằng nào cũng là chính trị hết.

Ngay cả khi thả bộ trong rừng
Anh cũng bước những bước đi chính trị
Trên nền đất chính trị.

Những câu thơ phi chính trị cũng là chính trị,
Vầng trăng sáng trên cao,
không còn là trăng nữa.
Tồn tại hay không tồn tại, đó là câu hỏi.
Câu hỏi gì, mến thương ơi, hãy trả lời đi.
Câu hỏi chính trị.

Thậm chí anh chẳng cần phải là người
Để có được tầm quan trọng chính trị.
Chỉ cần anh là dầu lửa
ngũ cốc hay nguyên liệu tái chế - là đủ.

Hoặc là cái bàn hội nghị, mà hình dạng
bị tranh cãi hàng tháng:
đàm phán về chuyện sinh tử
bên bàn tròn hay vuông.

Trong khi đó con người vẫn bỏ mạng,
súc vật chết,
nhà cửa vẫn cháy
đồng ruộng hoang tàn
như trong những thời đại mịt mùng xa lắc

không chính trị bằng.


Nguyên tác:Jesteśmy dziećmi epoki,
epoka jest polityczna.

Wszystkie twoje, nasze, wasze
dzienne sprawy, nocne sprawy
to są sprawy polityczne.

Chcesz czy nie chcesz,
twoje geny mają przyszłość polityczną,
skóra odcień polityczny,
oczy aspekt polityczny.

O czym mówisz, ma rezonans,
o czym milczysz, ma wzmowę
tak czy owak polityczną.

Nawet idąc borem lasem
stawiasz kroki polityczne
na podłożu politycznym.

Wiersze apolityczne też są polityczne,
a w górze świeci księżyc,
obiekt już nie księżycowy.
Być albo nie być, oto jest pytanie.
Jakie pytanie, odpowiedz kochanie.
Pytanie polityczne.

Nie musisz nawet być istotą ludzką,
by zyskać na znaczeniu politycznym.
Wystarczy, żebyś był ropą naftową,
paszą treściwą czy surowcem wtórnym.

Albo I stołem obrad, o którego kształt
spierano się miesiącami
przy jakim pertraktować o życiu i śmierci,
okrągłym czy kwadratowym.

Tymczasem ginęli ludzie,
zdychały zwierzęta,
płonęły domy
i dziczały pola
jak w epokach zamierzchłych
i mniej politycznych.


Tra tấn (Wisława Szymborska)

Unknown | 11:37:00 PM | 0 comments
Thái Linh dịch
Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể biết đau,
phải ăn, ngủ và hít thở,
nó có làn da mỏng, ngay dưới da là máu,
có móng và răng - một số lượng khá nhiều,
xương dễ gãy, các khớp co dãn.
Khi tra tấn, tất cả những điều này đều được xét đến.

Chẳng có gì đổi thay.
Thân thể run lên, như đã từng run
trước khi thành La Mã được lập nên, và sau đó,
vào thế kỷ hai mươi trước và sau Thiên Chúa,
những đòn tra tấn vẫn như xưa,
chỉ trái đất ngày càng nhỏ lại
và bất kỳ điều gì xảy ra cũng tựa như cách một bức tường.

Chẳng có gì đổi thay.
Chỉ có người ngày một nhiều hơn,
Bên cạnh những đòn cũ xuất hiện nhiều đòn mới,
đòn thật sự, tưởng tượng, không có, hay tạm thời,
nhưng tiếng kêu thét thân thể đáp lại chúng
đã, đang và sẽ là tiếng kêu vô tội,
theo cung bậc và âm giai xưa cũ đời đời.

Chẳng có gì đổi thay.
Có chăng chỉ là kiểu cách, lễ nghi, các điệu vũ.
Động tác đưa tay lên che đầu
thì vẫn nguyên như cũ.
Thân thể quằn quại, co giật, giãy ra,
bị chặt chân sụp xuống, khuỵu gối,
bầm tím, sưng vù, chảy máu và dãi nhớt.

Chẳng có gì đổi thay.
Ngoại trừ những bờ sông,
đường biên của rừng, bờ biển, sa mạc và sông băng.
Giữa những phong cảnh ấy, một linh hồn bé nhỏ dật dờ,
khi ẩn, khi hiện, khi gần lại, khi xa mờ,
xa lạ với bản thân, không cách gì nắm bắt,
lúc chắc chắn, lúc phân vân
về sự hiện hữu của chính mình,
trong khi thân thể vẫn có đó, có đó và có đó
mà chẳng chốn nương thân.



Nguyên tác:
Nic się nie zmieniło.
Ciało jest bolesne,
jeść musi i oddychać powietrzem i spać,
ma cienką skórę, a tuż pod nią krew,
ma spory zasób zębówi paznokci,
kości jego łamliwe, stawy rozciągliwe.
W torturach jest to wszystko brane pod uwagę.

Nic się nie zmieniło.
Ciało drży, jak drżało
przed założeniem Rzymu i po założeniu.
w dwudziestym wieku przed i po Chrystusie,
tortury są, jak były, zmalała tylko ziemia
i cokolwiek się dzieje, to tak jak za ścianą.

Nic się nie zmieniło.
Przybyło tylko ludzi,
obok starych przewinień zwawiły się nowe,
rzeczywiste, wmówione, chwilowe i żadne,
ale krzyk, jakim cialo za nie odpowiada,
był, jest i będzie krzykiem niewinności,
podług odwiecznej skali i rejestru.

Nic się nie zmieniło.
Chyba tylko maniery, ceremonie, tańce.
Ruch rąk osłaniających głowę
pozostal jednak ten sam.
Ciało się wije, szarpie i wyrywa,
ścięte z nóg pada, podkurcza kolana,
sinieje, puchnie, ślini się i broczy.

Nic się nie zmieniło.
Poza biegiem rzek,
linią lasów, wybrzeży, pustyń i lodowców.
Wśród tych pejzaży duszyczka się snuje,
znika,powraca, zbliża się, oddala,
sama dla siebie obca, nieuchwytna,
raz pewna, raz niepewna swojego istnienia,
podczas gdy ciało jest i jest i jest
i nie ma się gdzie podziać.

Kết thúc và khởi đầu (Wisława Szymborska)

Unknown | 11:29:00 PM | 0 comments
Thái Linh dịch


Sau mỗi cuộc chiến tranh
Phải có người dọn dẹp.
Một trật tự khả dĩ
không tự nó sinh ra.

Phải có người xúc đống gạch nát
sang lề đường
cho những chiếc xe chất đầy xác
đi qua.

Phải có người lăn xả
vào bùn đất, tro tàn,
giữa lò xo của những chiếc ghế bành,
những mảnh kính vỡ
và những tấm giẻ đẫm máu.

Phải có người khuân đi
thanh gỗ chống tường,
phải có người lắp kính cửa sổ
và lắp cánh cửa vào bản lề.

Những điều ấy lên hình không đẹp
và mất nhiều năm.
Mọi ống kính đều đã lên đường
tới cuộc chiến tranh khác.

Phải bắc lại cầu
và làm nhà ga mới.
Những tay áo sờn rách
vì bao lần xắn lên.

Có người cầm búa
ôn chuyện đã qua.
Có người lắng nghe
gật gù bằng cái đầu chưa mất.
Nhưng quanh họ
bắt đầu có những kẻ cảm thấy
những thứ đó chán ngấy.

Dưới bụi cây
đôi khi vẫn có người đào lên
những lý lẽ đã gỉ sét
và mang chúng ra đống rác.

Những người biết
về những điều từng xảy ra nơi đây
phải nhường chỗ cho những người
biết ít.
Biết ít hơn.
Và rốt cuộc gần như không biết.

Trên thảm cỏ
nơi mọc lên nhân quả
phải có người nằm lăn ra
nhấm cọng rơm

và ngây ngắm mây bay.


Nguyên tác:
    Koniec i początek

    Po każdej wojnie

    ktoś musi posprzątać.
    Jaki taki porządek
    sam się przecież nie zrobi.
    Ktoś musi zepchnąć gruzy
    na pobocza dróg,
    żeby mogły przejechać
    wozy pełne trupów.
    Ktoś musi grzęznąć
    w szlamie i popiele,
    sprężynach kanap,
    drzazgach szkła
    i krwawych szmatach.
    Ktoś musi przywlec belkę
    do podparcia ściany,
    ktoś oszklić okno
    i osadzić drzwi na zawiasach.
    Fotogeniczne to nie jest
    i wymaga lat.
    Wszystkie kamery wyjechały już
    na inną wojnę.
    Mosty trzeba z powrotem
    i dworce na nowo.
    W strzępach będą rękawy
    od zakasywania.
    Ktoś z miotłą w rękach
    wspomina jeszcze jak było.
    Ktoś słucha
    przytakując nie urwaną głową
    Ale już w ich pobliżu
    zaczną kręcić się tacy,
    których to będzie nudzić.

    Ktoś czasem jeszcze
    Wykopie spod krzaka
    przeżarte rdzą argumenty
    i poprzenosi je na stos odpadków.

    Ci, co wiedzieli
    o co tutaj szło,
    muszą ustąpić miejsca tym,
    co wiedzą mało.
    I mniej niż mało.
    I wreszcie tyle co nic.

    W trawie, która porosła
    przyczyny i skutki,
    musi ktoś sobie leżeć
    z kłosem w zębach
    i gapić się na chmury.


  

Chẳng có gì biếu không (Wisława Szymborska)

Unknown | 3:24:00 PM | 0 comments

Thái Linh dịch



Chẳng có gì biếu không, tất cả là vay mượn.
Tôi nợ ngập đầu.
Tôi sẽ phải gán mình
trả nợ cho bản thân,
mạng đem trả mạng.

Sự thể đã sắp đặt:
phải trả lại tim
phải trả lại gan
và từng ngón tay ngón chân.

Quá muộn để hủy hợp đồng.
Tôi sẽ bị lột da
tróc nợ.

Tôi đi giữa thế gian
trong đám đông những con nợ khác.
Vài kẻ mang gánh nặng
phải trả cánh của mình.
Những kẻ khác dù muốn dù không
đem lá ra thanh toán.

Bên Nợ đã ghi sẵn
mọi tế bào trong ta.
Không một tua lá, sợi mi nào
giữ lại được vĩnh viễn.

Danh mục ghi chi tiết
và xem ra
chẳng có gì còn lại của ta.

Tôi không thể nhớ ra
khi nào, ở đâu và để làm gì
tôi chấp nhận mở cho mình
tài khoản ấy.

Ta gọi sự phản kháng chống lại điều này
là tâm hồn.
Và đó là thứ duy nhất
không có trong danh mục nợ nần.


Nguyên tác:
Nic darowane, wszystko pożyczone. 
Toną w długach po uszy. 
Będę zmuszona sobą 
zapłacić za siebie, 
za życie oddać życie. 

Tak to już urządzone, 
że serce do zwrotu 
i wątroba do zwrotu 
i każy palec z osobna. 

Za późno na zerwanie warunków umowy. 
Długi będą ściągnięte ze mnie 
wraz ze skórą. 

Chodzą po świecie 
w tłumie innych dłużników. 
Na jednych ciąży przymus 
spłaty skrzydeł. 
Drudzy chcąc nie chcąc 
rozliczą się z liści. 

Po stronie Winien 
wszelka tkanka w nas. 
żadnej rzęski, szypułki 
do zachowania na zawsze. 

Spis jest dokładny 
i na to wygląda, 
że mamy zostać z niczym. 

Nie mogę sobie przypomnieć 
gdzie, kiedy i po co 
pozwoliłam otworzyć sobie 
ten rachunek. 

Protest przeciwko niemu 
nazywamy duszą. 
I to jest to jedyne, 
czego nie ma w spisie.



Uống rượu (Wisława Szymborska)

Unknown | 1:50:00 AM | 0 comments

Thái Linh dịch


Chàng đã nhìn em, khiến em đẹp hơn lên,
em nhận lấy như của mình nhan sắc.
Nuốt một vì sao, em hạnh phúc.

Em cho phép bản thân bịa đặt
mình giống hình phản chiếu đáy mắt chàng.
Em khiêu vũ, em đang khiêu vũ
trong bất ngờ cánh vỗ liền đôi.

Bàn là bàn, rượu là rượu đấy thôi
trong chiếc ly là chiếc ly trên bàn nằm đó
Nhưng em ảo, em là hư ảo
ảo đến khó tin
ảo tận máu đào.

Em nói điều chàng muốn nghe:
về những chú kiến vàng
chết vì yêu dưới chòm sao bồ công anh trắng.
Em xin thề, đóa hồng bạch kia đang hát,
cánh được tưới bằng những giọt rượu vang.

Em cười vui, đầu khẽ nghiêng sang
thận trọng, tựa như đang kiểm nghiệm
một phát minh. Em khiêu vũ, khiêu vũ
trong làn da kinh ngạc
trong vòng tay đang tạo nên em.

Eva từ xương sườn, Vệ nữ từ bọt biển nổi lên,
Minerva từ trán thần Zeus,
đều thực hơn em.

Khi chàng thôi không còn nhìn em,
em tìm bóng hình mình trên tường phản chiếu.
Em chỉ thấy một chiếc đinh lạnh lẽo
nơi bức tranh bị gỡ đi rồi.

Nguyên tác:

Przy winie

Spojrzał, dodał mi urody,
a ja wzięłam ją jak swoją.
Szczęśliwa, połknęłam gwiazdę.

Pozwoliłam się wymyślić
na podobieństwo odbicia
w jego oczach. Tańczę, tańczę
w zatrzęsieniu nagłych skrzydeł.

Stół jest stołem, wino winem
w kieliszku, co jest kieliszkiem
i stoi stojąc na stole.
A ja jestem urojona,
urojona nie do wiary,
urojona aż do krwi.

Mówię mu, co chce: o mrówkach
umierających z miłości
pod gwiazdozbiorem dmuchawca.
Przysięgam, że biała róża
pokropiona winem, śpiewa.

Śmieję się, przechylam głowę
ostrożnie, jakbym sprawdzała
wynalazek. Tańczę, tańczę
w zdumionej skórze, w objęciu,
które mnie stwarza.

Ewa z żebra, Wenus z piany,
Minerwa z głowy Jowisza
były bardziej rzeczywiste.

Kiedy on nie patrzy na mnie,
szukam swojego odbicia
na ścianie. I widzę tylko
gwóźdź, z którego zdjęto obraz.

Tản mạn về một "thượng đỉnh văn học"

Unknown | 2:35:00 AM | 0 comments
Từ ngày 20 đến 22.6.2013, tại Kraków - cố đô và trung tâm văn hóa của Ba Lan - vừa diễn ra Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3. Đây là sự kiện quốc tế lớn nhất thế giới dành cho các dịch giả văn học do Viện Sách trực thuộc Bộ Văn hóa và Di sản Quốc gia Ba Lan tổ chức 4 năm một lần. Tới tham dự Đại hội lần này có 250 dịch giả từ 51 quốc gia của 41 thứ tiếng ở khắp thế giới. Sáu dịch giả Việt Nam được mời là Nguyễn Thanh Thư, Tạ Minh Châu, Nguyễn Chí Thuật, Nguyễn Văn Thái, Lê Bá Thự và Nguyễn Thái Linh. 

Các dịch giả Việt Nam từ trái sang phải: Nguyễn Chí Thuật, Lê Bá Thự,
Nguyễn Thái Linh,Tạ Minh Châu, Nguyễn Thanh Thư, Nguyễn Văn Thái
1. Có lẽ không chỉ tôi, mà nhiều thành viên khác của Đại hội sẽ khó quên những ngày cuối tháng Sáu năm 2013, khi chúng tôi liên tục được gặp gỡ, trò chuyện, đối thoại với những con người minh triết và giản dị, được sống trong không khí thân ái, chân tình.

​Trong 3 ngày, chúng tôi được tham gia hơn 40 hội thảo và thảo luận chuyên đề về hiện trạng văn học và ngôn ngữ  Ba Lan cùng với các nhà văn và nhà phê bình văn học hàng đầu Ba Lan, qua đó cập nhật thông tin và hoàn thiện kỹ năng dịch thuật của mình. Rzeczpospolita - một trong những tờ nhật báo lớn nhất Ba Lan - đã gọi Đại hội là  "thượng đỉnh văn học”.

Lễ khai mạc tại đại giảng đường trường Đại Học Jagielloński (ảnh của Viện Sách)

Phát biểu trong lễ khai mạc được tổ chức trang trọng tại đại giảng đường Đại học Jagielloński (đại học cổ nhất Ba Lan và là một trong những đại học cổ nhất thế giới), viện trưởng Viện Sách Grzegorz Gauden đã vinh danh các dịch giả là những đại sứ của văn học Ba Lan ở khắp năm châu và bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với những đóng góp của họ cho việc quảng bá văn học Ba Lan ra thế giới. Tình cảm trân trọng đối với các dịch giả và tâm huyết đối với việc quảng bá văn học Ba Lan ra nước ngoài không chỉ là lời nói, mà còn được Viện Sách thể hiện trong suốt 10 năm hoạt động của mình. Viện đã tài trợ hơn 4,5 triệu USD cho hơn 1400 đầu sách văn học Ba Lan xuất bản bằng 42 thứ tiếng trên thế giới, giúp đỡ thúc đẩy quan hệ giữa các dịch giả và các nhà xuất bản, đài thọ cho các dịch giả đến Ba Lan làm việc trong thời gian từ 1 đến 3 tháng, trao các giải thưởng dịch thuật... Những nỗ lực này càng đáng trân trọng bội phần trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay.

Ăn trưa ở Piwnica pod Baranami, địa chỉ nổi tiếng của giới văn nghệ sỹ Ba Lan
 Không chỉ là „thượng đỉnh văn học”, Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ 3 còn là „thượng đỉnh văn hóa”, khi lễ khai mạc, các hội thảo, các bữa trưa, lễ trao giải Transatlantyk... đều diễn ra ở các địa chỉ văn hóa nổi tiếng của Ba Lan ở cố đô Kraków, khiến các dịch giả được chìm đắm trong không gian văn hóa đậm đặc và thân mật.

Đáng ghi nhận nhất vẫn là tình cảm, lòng biết ơn và sự trân trọng đối với các dịch giả; tiếp nối tinh thần tri ân đầy nhân văn mà nhà văn, nhà báo kiệt xuất Ba Lan Ryszard Kapuściński đã khơi lên 8 năm về trước. Trong lễ khai mạc Đại hội dịch giả văn học Ba Lan toàn thế giới lần thứ nhất năm 2005, Kapuściński đã phát biểu:  "Ngày nay vai trò của dịch giả trong một thế giới đa văn hóa càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn – khi người dịch giúp bạn đọc ý thức được rõ ràng về sự tồn tại của những Người khác, về tính đặc biệt, không lặp lại của anh ta...Với ý nghĩa đó, khi dịch một văn bản, chúng ta mở ra cho những Người khác một thế giới mới, chúng ta giải thích cái thế giới mới đó, và khi giải thích, chúng ta đưa cái thế giới đó lại gần mọi người hơn, tạo điều kiện cho mọi người sống trong lòng nó, biến nó thành một phần sự trải nghiệm cá nhân.... Vậy là nhờ cố gắng của dịch giả, chân trời tư duy của mọi người được mở rộng, sự hiểu biết, tri thức chung được nâng lên, sự nhạy cảm, tinh tế được cải thiện. Ngày nay, trong thế kỷ 21 này, những điều kể trên càng trở nên đặc biệt quan trọng, bởi vì thế giới của chúng ta khi phát triển với tốc độ chóng mặt, khi thay đổi và tạo nên sự khác biệt, nó luôn cần đến giải thích, lý giải, trong đó bản dịch văn học là sự trợ giúp đắc lực – nghĩa là công sức của những người có mặt hôm nay là không thể thiếu...”.  Tại Đại hội lần thứ ba này, tinh thần đó đã được Phó chủ tịch thành phố Kraków Magdalena Sroka tiếp nối nhất quán:  "Dịch văn học là một trong những hoạt động quan trọng nhất ở nước ngoài vì lợi ích văn hóa Ba Lan và chủ nghĩa nhân văn. Ngôn từ là cội rễ căn tính của con người. Dịch một ngoại ngữ ra ngôn ngữ nền văn hóa của mình đòi hỏi sự nhạy cảm phi thường. Trong thế kỷ 21, công việc của dịch giả phục vụ cho việc „làm quen với cái Khác”, nó không chỉ mang chiều kích văn hóa, mà cả chiều kích nhân văn.”

Các dịch giả dịch R. Kapuściński chụp ảnh kỷ niệm tại lễ trao giải Transatlantyk,
 giải thưởng thường niên dành cho dịch giả có nhiều đóng góp
cho việc quảng bá văn học Ba Lan ở nước ngoài (ảnh của Viện Sách)
Tình cảm và sự trân trọng dành cho các dịch giả văn học biểu hiện tình cảm và sự trân trọng của người Ba Lan dành cho chính nền văn học nước nhà, một nền văn học luôn đầy sức sống mạnh mẽ. Không phải ngẫu nhiên mà một đất nước nhỏ bé như Ba Lan lại có tới 4 giải Nobel văn học.  Chính bởi tinh thần này mà qua các kỳ đại hội, Ba Lan đã xây dựng được một cộng đồng dịch thuật văn học Ba Lan đầy gắn bó. Đại hội là nơi duy nhất trên hành tinh hội tụ hàng trăm con người đến từ khắp năm châu chỉ cùng nói ngôn ngữ duy nhất - tiếng Ba Lan, một trong những ngôn ngữ khó nhất của châu Âu. Các dịch giả coi nhau như bạn bè thân thiết, xem Ba Lan như quê hương chung và đến đại hội như trở về nhà. Desislava Nedyalkova, dịch giả người Bulgaria tâm sự: "Tôi mong chờ suốt 4 năm để lại được tham dự Đại hội, để gặp lại những người bạn thương mến". Các dịch giả đều có tình yêu và niềm đam mê chung với nền văn học và văn hóa Ba Lan, có những khó khăn chung trong việc dịch thuật hay việc thuyết phục các nhà xuất bản nước ngoài, bởi vậy những cuộc trò chuyện bên lề Đại hội, trong các giờ giải lao, ở phòng ăn khách sạn, trên đường đến hội thảo... dường như kéo dài vô tận, không có kết thúc. Và cũng không có ai muốn Đại hội kết thúc. Ngày cuối cùng của Đại hội, giám đốc Viện Sách nói: „Tôi xin không nói lời bế mạc, mà chỉ tạm dừng cuộc gặp gỡ này lại 4 năm”. Cả hội trường đứng lên vỗ tay không ngớt suốt mấy phút. Anh Jauhien Salejcuk, dịch giả người Bạch Nga, buồn rầu nói: „Thật buồn vì Đại hội đã kết thúc, những gì tốt đẹp thường qua thật nhanh!

Với dịch giả Thụy Điển Anders Bodegard. (W.Szymborska đã từng khiêm tốn nói rằng:
nếu không có các bản dịch của Bodegard thì có lẽ bà không được giải Nobel.)
Dịch giả Tạ Minh Châu  thì cảm kích:  "Chắc không có dân tộc nào trên thế giới tình cảm và trân trọng văn học như dân tộc Ba Lan, có thái độ ứng xử văn hóa như dân tộc Ba Lan. Rời Đại hội trở về, tôi luôn suy nghĩ phải làm sao đền đáp được tấm lòng và sự trân trọng của họ.” Có lẽ đó cũng chính là suy nghĩ của các dịch giả tham dự đại hội nói chung và của các dịch giả Việt Nam nói riêng. Tinh thần ấy, thái độ ấy thực sự khiến cho các dịch giả từ khắp năm châu ngả mũ kính phục.

2. 
Tới dự đại hội lần này, tôi không khỏi mang một cảm giác trống vắng khi không còn được gặp Wisława Szymborska - nhà thơ tôi yêu quý nhất. Mỗi bản dịch thơ bà là một phần cuộc sống của tôi, là một trang trong nhật ký đời tôi. Tôi vẫn nhớ nụ cười hiền hậu mà tinh nghịch của bà, cái dáng gầy gầy thân yêu của bà mà tôi còn được nhìn thấy trong đại hội lần trước. Nụ cười ấy, dáng vóc ấy giờ đây đã yên nghỉ trong nghĩa trang Rakowiecki, cách nơi diễn ra đại hội không xa.


Mang một bó hoa huệ trắng, tôi tới thăm bà vào buổi chiều cuối cùng ở Kraków. Mộ bà nằm bình dị, chìm lẫn giữa bao ngôi mộ khác giữa nghĩa trang rộng lớn, phải loanh quanh một lúc tôi mới tìm được. Bà vẫn thế, giản dị và kín đáo như khi còn sống. Tôi thầm biết ơn những người quản lý nghĩa trang đã không biến nơi an nghỉ của bà thành một địa điểm du lịch. Không khí trong nghĩa trang mát dịu vì nhiều bóng cây tỏa xuống, mặc dù ngoài kia Kraków đang giữa những ngày nóng nắng nhất. Tiếng chim hót ríu rít bình yên và trong lành. Cảm giác thanh thản và bình yên kỳ lạ, thanh thản như nhà thơ nói về cái chết của mình:

Nằm nơi đây là tác giả dăm bài thơ, cổ hủ già nua,
xưa như dấu phẩy. Đất rủ lòng dành cho bà ấy
sự an nghỉ ngàn thu, mặc dù xác chết
chẳng thuộc nhóm văn nào hết.

Nhưng trên nấm mồ bà cũng chẳng có gì hơn
ngoài bài thơ này, nhành ngưu bàng và một con cú vọ
Người qua đường kia ơi, hãy rút trong cặp ra bộ óc điện tử
và ngẫm một giây về phận đời Szymborska.

Tất cả đều đơn giản và bình dị, như viên đá, như đám mây, như một ngày, như sự sống. Nhưng tất cả lại cũng thật phi thường. Như Szymborska đã nói  "trong ngôn ngữ của thi ca, nơi mỗi từ đều vô cùng quan trọng thì chẳng có gì là bình thường nữa cả. Một viên đá, một đám mây, một ngày và nhất là sự sống của ai đó trên thế gian này”.

Thật phi thường, bởi không phải vô cớ mà Joseph Brodsky từng nói: nếu bạn biết tiếng Ba Lan hay đây là ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, thì đó sẽ là một lợi thế lớn, vì  "thứ thi ca phi thường nhất của thế kỷ được viết bằng thứ tiếng này”.

Thái Linh, 7.2013
(Đây là bản đầy đủ của bài đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, số ra ngày 05.07.2013)



Thiếu nữ (Wisława Szymborska)

Unknown | 5:05:00 PM | 0 comments

Thái Linh dịch


Tôi – một cô thiếu nữ?
Nếu đột nhiên, nơi đây, ngay lúc này, cô đứng trước mặt tôi,
Liệu tôi có phải chào cô như chào người thân thiết,
Mặc dầu đối với tôi, cô lạ lẫm và xa xôi?

Tôi có phải hôn lên trán cô và ứa nước mắt
chỉ vì lý do duy nhất
là chúng tôi cùng ngày sinh nhật?

Chúng tôi khác nhau quá nhiều
chắc chỉ còn bộ xương, hốc mắt
và hộp sọ, là vẫn như xưa.

Bởi vì dường như
đôi mắt cô lớn hơn, hàng mi dài hơn,
cô cũng cao hơn, và cả tấm thân căng
trong làn da mịn màng không tì vết.

Chúng tôi cùng chung họ hàng và những người quen biết
nhưng trong thế giới của cô họ còn sống đủ đầy,
thế giới của tôi gần như không còn ai
trong số họ.

Chúng tôi khác nhau quá rõ,
suy nghĩ và nói những điều hoàn toàn khác nhau.
Cô biết ít thôi -
nhưng với lòng kiên gan vươn lên đáng nể.
Tôi biết nhiều hơn rất nhiều
nhưng không có gì chắc chắn, đinh ninh.

Cô cho tôi xem những bài thơ
viết rõ ràng, nắn nót
bằng nét chữ tôi không còn viết bao năm.

Những bài thơ tôi đọc mãi từng trang.
Chắc chỉ được một bài,
nếu cắt đi đôi chút
rồi sửa vài chỗ khác.
Số còn lại chẳng tiên báo điều gì sáng sủa hay ho.

Rời rạc cuộc chuyện trò.
Trên chiếc đồng hồ tội nghiệp của cô
thời gian phù vân và còn rẻ mạt.
Thời gian trên đồng hồ tôi quý giá và chính xác.

Chẳng có gì khi chia tay, nụ cười phải phép,
không chút xao lòng.

Chỉ khi cô biến mất, và trong phút vội vàng
bỏ lại một chiếc khăn.

Chiếc khăn bằng len
kẻ màu sặc sỡ
mẹ chúng tôi
đã đan cho cô.

Tôi vẫn gìn giữ đến tận bây giờ.