Showing posts with label Chủ quyền lãnh thổ. Show all posts
Showing posts with label Chủ quyền lãnh thổ. Show all posts

VÀI ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU VỀ CUỘC XUNG ĐỘT HIỆN NAY GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Unknown | 1:22:00 AM | 0 comments

Trần Ngân

Bài viết dưới đây của tác giả Trần Ngân là một trong số ít những tiếng nói góp phần khách quan soi tỏ tình hình ở Việt Nam trong mấy ngày qua. BVN xin đăng lại như một tiếng nói "trung ngôn nghịch nhĩ", để đảng cầm quyền và nhà nước cùng bạn đọc xa gần tham khảo.

Bauxite Việt Nam

Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương vào vùng biển Việt Nam từ ngày 2/5/2014, tới nay đã được hơn 2 tuần và trong hơn 2 tuần đó, đã có quá nhiều sự kiện diễn ra ở Việt Nam, đủ để đưa ra một số nhận định ban đầu về vấn đề lúc đầu có vẻ tưởng như không lớn lắm này. Lý do Trung Quốc đưa giàn khoan vào Việt Nam đã được nhiều người phân tích, ở đây sẽ không nhắc lại nữa. Trong bài này sẽ chỉ tập trung phân tích những ảnh hưởng tới kinh tế xã hội Việt Nam hiện tại và tương lai qua sự kiện này.

1. Những tác động lớn tới kinh tế xã hội Việt Nam từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào Việt Nam

Từ khi Trung Quốc chính thức thông báo đưa giàn khoan vào Việt Nam ngày 2/5 thì ở Việt Nam đã xảy ra nhiều biến động lớn trên nhiều mặt kinh tế - xã hội, tập trung vào tuần lễ từ 8 – 15/5.

-  Thị trường chứng khoán sụt giảm: Tính chung trong nửa đầu tháng 5/2014 thị trường chứng khoán mất sạch số điểm tăng trong 4 tháng trước đó. Chỉ trong 8 ngày kể từ ngày 8/5, TCCK mất 6 tỷ USD giá trị vốn hóa trong đó chỉ riêng ngày 8/5 mất 3 tỷ USD. Đây là con số sụt giảm lớn nhất trong một ngày từ trước tới nay và ngay lập tức Ủy ban Chứng khoán nhà nước phải ra thông báo trấn an tâm lý nhà đầu tư. (http://www.anninhthudo.vn/Kinh-doanh/Thu-3-den-toi-va-bai-hoc-nhay-lau/551147.antd)

-  Giá USD và và giá vàng biến động mạnh: Giá vàng và giá USD biến động rất mạnh (giá vàng tăng hơn 1 triệu đồng/lượng trong 1 tuần, giá USD cũng tăng kịch trần) do nhiều người dân lo sợ đã đi rút tiền từ ngân hàng để mua vàng và USD. Ngân hàng nhà nước cũng ngay lập tức phải ra thông báo trấn an người dân.

-   Biểu tình gây bạo động ở một số địa phương: Chỉ riêng ở Bình Dương, “theo báo cáo của LĐLĐ tỉnh Bình Dương, hiện có gần 700 DN bị thiệt hại, trong đó có 365 DN bị thiệt hại nặng. Đặc biệt, 27 DN bị đốt cháy gây thiệt hại nghiêm trọng. Số DN phải tạm ngừng hoạt động là hơn 800; CN bị tạm thời ngừng việc trên 290.000 người. Ông Lê Thành Nhơn - Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Dương, cho biết thêm có khoảng hơn 100.000 CN phải nghỉ việc dài hạn hay mất việc do DN bị cháy.”. (http://laodong.com.vn/chinh-tri/binh-duong-hai-ngay-sau-bao-201489.bld) Còn tại Đồng Nai: “Đồng Nai vẫn có khoảng 300 DN Đài Loan, Trung Quốc ngừng hoạt động để xem xét tình hình và tính toán lại khả năng kinh doanh và 140.000 người lao động phải nghỉ việc” (http://songmoi.vn/xa-hoi-thoi-su/doanh-nghiep-ton-hai-cong-nhan-mat-viec-sau-vu-gay-roi-qua-khich). Bạo động ở Hà Tĩnh làm 2 người chết và gần 150 người bị thương.

2. Một số đánh giá từ những sự kiện này

Dưới đây là một số đánh giá sơ bộ của tác giả từ những sự kiện này:

-  Những sự biến động mạnh kể trên chỉ trong một thời gian ngắn cho thấy Việt Nam hiện có quá nhiều điểm yếu và quá nhiều mầm mống bất ổn nghiêm trọng đang tiềm ẩn trong các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Những điểm yếu và những mầm mống bất ổn này đã được nhận diện và nhắc tới nhiều nhưng chắc nhiều người cũng không nghĩ rằng nó có thể bộc lộ ra một cách mạnh mẽ thế chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn như vậy. Kinh tế chưa thoát khỏi suy thoái kéo dài khiến tâm lý người dân bất ổn, thiếu niềm tin vào nền kinh tế và khả năng điều hành của chính phủ (thị trường vàng, USD và chứng khoán là nơi biểu thị niềm tin rõ ràng nhất). Đời sống công nhân thường được đảng tôn vinh như “giai cấp tiên phong” thì chỉ ở mức gần như dưới đáy xã hội. Thu nhập của đại đa số công nhân, đặc biệt là ở các doanh nghiệp FDI chỉ giúp họ tồn tại một cách chật vật chứ không phải là một cuộc sống đúng nghĩa và có tương lai để hy vọng. Họ cũng không có người đại diện là “công đoàn” đúng theo nghĩa của nó để nói lên tiếng nói và đấu tranh cho nguyện vọng của mình. Cuộc bạo động vừa qua, dù có tác nhân quan trọng là bị kích động và bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông cũng không che giấu được một điều rằng công nhân cũng rất bức xúc về đời sống của họ. Rõ ràng là ý thức “giác ngộ” về “vai trò lịch sử của giai cấp công nhân” của họ không hề cao như đảng vẫn tuyên truyền.

- Trong những bất ổn toàn diện vừa qua, người được hưởng lợi lớn nhất tất nhiên là Trung Quốc. Việc đưa giàn khoan vào lãnh hải Việt Nam đối với Trung Quốc chỉ là một động tác nhẹ nhàng nhưng đã gây chấn động nhiều mặt tới tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam. Chỉ qua bài test nhẹ nhàng này, Trung Quốc đã làm lộ ra quá nhiều điểm yếu ở Việt Nam và chắc chắn sắp tới nếu cần, Trung Quốc sẽ biết cần tập trung vào đâu để gây bất ổn cho Việt Nam. Trung Quốc là bậc thầy trong việc này. Trung Quốc đã hiểu rằng họ có thể dễ dàng tác động gây mất ổn định tình hình nội bộ để làm chính quyền Việt Nam không thể dồn toàn lực đối phó với họ được. Khi đã biết điểm yếu và khả năng của đối thủ thì Trung Quốc sẽ càng có những bước đi mạnh dạn trong việc xâm phạm chủ quyền. Đây chính là nguy cơ ngắn hạn nổi bật nhất.

- Một vấn đề nữa dù mới chỉ là nghi vấn nhưng có lẽ Trung Quốc đã cài cắm được nhiều người vào Việt Nam, không loại trừ cả các vị cao cấp trong lực lượng an ninh. Nhiều người cảm thấy rất khó hiểu là tại sao an ninh Việt Nam thường rất hiệu quả trong việc chống biểu tình của các thành phần đối lập lại tỏ ra quá lơi lỏng trong các vụ bạo động lần này. Khởi đầu cho cuộc bạo động đầu tiên ở Bình Dương còn có thể biện minh được là do xảy ra bất ngờ nhưng nó kéo dài trong tới 2 ngày và ở quy mô rất lớn, đốt phá tới 700 doanh nghiệp mà sự can thiệp lại rất yếu ớt. Qua ngày hôm sau, đáng lẽ cơ quan chức năng phải thừa hiểu rằng nó sẽ có thể lan qua các KCN ở Đồng Nai nhưng họ cũng không có biện pháp nào đủ mạnh để ngăn cản nó lan sang đó. Rồi sau khi bạo động đã xảy ra ở Bình Dương, Đồng Nai mà vẫn để biểu tình xảy ra ở Hà Tĩnh dù lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ khoảng 40 người là điều hết sức khó hiểu. Rất có thể trong đám biểu tình bạo động có sự giật dây của Trung Quốc vì biểu tình lan rất nhanh và khá chuyên nghiệp nhưng bản thân cơ quan an ninh cũng có thể đã bị tác động nên phản ứng rất thiếu hiệu quả.

- Trong hơn một tuần đầy biến cố vừa qua đã làm lộ ra một điểm yếu chết người trong bộ máy lãnh đạo chóp bu của Việt Nam là sự phản ứng quá chậm, quá kém hiệu quả trong những tình huống khẩn cấp. Việc các lãnh đạo cấp cao chậm lên tiếng khi Trung Quốc đưa giàn khoan vào Biển Đông còn có thể được biện minh là vì lý do chính trị. Tuy nhiên, khi bạo động lan rộng đã gây rúng động xã hội mà cũng không thấy lãnh đạo chính phủ cấp bộ trưởng nào lên tiếng. Ông TBT thì thản nhiên đọc một bài diễn văn bế mạc dài lê thê của Hội nghị TW 9 về những vấn đề hết sức xa xôi như “xây dựng con người văn hóa XHCN” rồi “chống diễn biến hòa bình”.  Rõ ràng bộ máy lãnh đạo cao cấp đã đã thiếu chuẩn bị trước nguy cơ thù trong giặc ngoài và đối phó với sự bất ổn về kinh tế - xã hội trên diện rộng. Nếu nhìn vào cơ cấu Bộ Chính trị có thể thấy trong 16 Ủy viên BCT khóa XI thì có tới 5 người: Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Phạm Quang Nghị, Tòng Thị Phóng, Tô Huy Rứa là xuất thân từ lĩnh vực tuyên truyền, dân vận. Ai ở Việt Nam cũng hiểu những người làm việc trong những lĩnh vực này nói chung bảo thủ, kiến thức cũ kỹ, nhìn thế giới theo cách đơn chiều địch-ta, … Nói chung là tầm tri thức của họ tụt xa so với mức trung bình của xã hội Việt Nam chứ đừng nói là so với những chính trị gia lão luyện của Trung Quốc. Điều này cho thấy ban lãnh đạo tối cao của Việt Nam hiện nay đặt ưu tiên cho việc tuyên truyền và giữ ổn định chính trị nội bộ hơn là có khả năng đối phó với các bất ổn mang tính chiến lược từ bên ngoài.

Việc tê liệt về mặt chính trị ở Việt Nam trong thời gian gần đây không phải là vấn đề mới. Trong quản lý kinh tế, trong vài năm gần đây, lãnh đạo đã gần như tê liệt trong các cải cách cấu trúc mang tính dài hạn. Phe bảo thủ đã thành công trong việc kéo lùi lại quá trình đổi mới bằng những việc như đưa qui định Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo vào trong Hiến pháp 2013. Nhưng trong những tình huống khẩn cấp thì đòi hỏi một cơ cấu lãnh đạo hiệu quả hơn cơ chế lãnh đạo tập thể hiện nay rất nhiều.

3. Con đường của Việt Nam sắp tới

Như vậy, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những vấn đề hết sức nan giải:

- Nền kinh tế èo uột, mất động lực tăng trưởng. Các cải cách tái cấu trúc, đặc biệt đối với khu vực DNNN rất chậm chạp [1]. Khu vực làm ăn tốt nhất là khu vực FDI lại bị giáng một đòn chí tử trong cuộc bạo động vừa qua. Sự “ổn định chính trị” mà Việt Nam bấy lâu nay tự hào và coi đó như một lợi thế lớn để thu hút đầu tư nước ngoài đã bị chứng tỏ chỉ là một ảo tưởng qua mấy ngày bạo động vừa qua;

- Tình hình mất niềm tin có xu hướng càng lan rộng và tăng cao nếu nguy cơ xung đột vũ trang với Trung Quốc và tình hình bất ổn trong nước kéo dài;

-  Các đòi hỏi của chủ nghĩa dân tộc, nhiều khi là cực đoan trong nước trong việc đòi hỏi có các hành động chống lại Trung Quốc mạnh mẽ hơn;

-  Nguy cơ gây bất ổn từ phía Trung Quốc. Trung Quốc có dư tiềm lực và kinh nghiệm để gây mất ổn định tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, đặc biệt sau kinh nghiệm của giai đoạn vừa qua. Qua những bất ổn vừa rồi, rõ ràng Trung Quốc đã rất thành công trong việc “dạy cho Việt Nam một bài học” khi Việt Nam muốn đối đầu với mình.

Như vậy tương lai sắp tới của Việt Nam sẽ như thế nào và Việt Nam nên làm gì để giữ được toàn vẹn lãnh thổ? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì phụ thuộc vào nhiều biến số khác nhau.

Đa số những người có hiểu biết thật sự đều hiểu rằng chỉ có cách tách ra khỏi “quỹ đạo Trung Quốc”, dân chủ hóa đời sống chính trị, tự do hóa nền kinh tế để làm đất nước mạnh lên, hội nhập hơn nữa vào các chuẩn mực chung của văn minh nhân loại để tìm thêm những người bạn mới trên thế giới thì mới là cách tốt nhất để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, điều này lại vấp phải một trở lực quá lớn là ý thức hệ của đảng cầm quyền.

Tác giả tin rằng phần nhiều đảng viên, nhất là những người ở tầng lớp thấp vẫn là người “yêu nước” thực sự nhưng họ cũng lại thật lòng tin rằng cách làm như hiện nay, tức là duy trì sự độc tôn tư tưởng, hạn chế dân chủ, hạn chế tự do ngôn luận, hạn chế xã hội dân sự, duy trì ý thức hệ cũ… lại chính là cách tốt nhất để bảo vệ đất nước một cách có hiệu quả. Đây có lẽ là bi kịch lớn nhất của những người cộng sản trung kiên. Họ tưởng rằng việc duy trì đàn áp nội địa để giữ “ổn định” chính trị, hạn chế tự do ngôn luận để có sự “đồng thuận ý kiến” và tăng chi cho quốc phòng sẽ giúp tăng cường khả năng phòng thủ trước Trung Quốc. Tuy nhiên, họ đã quên bài học của Hồ Quý Ly khi chống nhau với giặc Minh. Nhà văn Hoàng Hải, một người nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn có nói:

“Ngôi thành đá kiên cố, hơn 600 năm xem ra vẫn còn chắc vững lắm. Thế mà cái thời đại đẻ ra ngôi thành đó, tức nhà Hồ, lại sụp đổ nhanh chóng đến bất ngờ.

Xét Hồ Quý Ly lấy ngôi nước từ nhà Trần trên cơ sở điêu trá và tàn bạo. Vốn liếng chính trị ông gây dựng trên cái nền của lòng dân chán ghét, nội bộ chia lìa. Tất cả những yếu tố khiến cho sức mạnh quốc gia dần đi vào thế bại liệt, đều do một tay Hồ Quý Ly bày xếp cả. Và cái thế nước lụi tàn ấy, làm sao mà che bịt được những đôi mắt gian giảo của bầy ác thú phương Bắc.

Chính cha con Hồ Quý Ly chứ không phải ai khác, đã tiến hành những cuộc tàn sát khủng khiếp đối với những người chống đối, hoặc chỉ có ý nghĩ không tùng phục mà có kẻ tố giác, cũng bị rơi đầu. Quân lính của ông luôn luôn bận mải hành quân đàn áp nhân dân nổi dậy từ khắp mọi nơi. Cả nước tràn ngập không khí tang tóc và tù ngục. Lòng dân oán hận triều đình đến cùng cực, chia rẽ đến tột cùng, đói khổ đến tột cùng. Để cho đất nước rơi vào thảm cảnh đó, cũng có nghĩa tự mình tạo điều kiện tốt nhất cho giặc ngoài vào xâm lấn, và cũng có khác chi tự mình đem nước dâng cho giặc. Nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng như vậy, chỉ có một nguyên nhân duy nhất có thể cắt nghĩa là bởi khinh dân, chống lại nguyện vọng chân chính của toàn dân, và vì thế cả dân tộc không hợp tác với nó, khiến nó bị diệt vong.

Nhớ câu nói nổi tiếng của Hồ Nguyên Trừng khi Hồ Quý Ly hỏi: "Ta ước sao có được một trăm vạn quân để chống lại người Minh". Trừng đáp: "Thưa cha, quân không sợ thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo". (http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/tulieuvanhoa/2010/8/57286.cand )

Việc mua sắm các thiết bị quân sự hiện đại sẽ đặt gánh nặng rất lớn lên ngân sách quốc gia. Mua đã tốn tiền nhưng chi phí duy tu, bảo dưỡng những thiết bị hiện đại như tàu ngầm sẽ ngốn những khoản ngân sách khổng lồ. Một quốc gia yếu kém về kinh tế không thể đủ tiềm lực lâu dài để chạy đua quân sự mà không ảnh hưởng lớn tới đời sống của người dân.

Theo tác giả, trong thời gian tới, tầng lớp lãnh đạo Việt Nam sẽ vừa muốn tiếp tục duy trì quyền lực tuyệt đối nhưng cũng không còn dám thân thiết quá với Trung Quốc như thời gian vừa rồi. Những ngôn từ ca ngợi bạn “4 tốt, 16 chữ vàng” chắc sẽ ít hoặc không còn được sử dụng công khai. Tuy nhiên, họ sẽ lợi dụng chính những bất ổn xảy ra từ các cuộc bạo động để củng cố cơ sở quyền lực của mình. Các chính quyền toàn trị rất giỏi trong việc này. Nhãn tiền có thể thấy là nhà nước đã tung ra các đợt tuyên truyền nói rằng Việt Tân đang giật dây cho biểu tình “trái pháp luật” nên họ sẽ mạnh tay ngăn cản các cuộc biểu tình không do nhà nước tổ chức, bất kể vì lý do gì [2]. Họ cũng sẽ lợi dụng tinh thần dân tộc đang dâng cao, yêu cầu người dân “đoàn kết” xung quanh chính phủ đấu tranh chống Trung Quốc để che giấu những bất ổn nội bộ bên trong như tham nhũng, bất bình đẳng, khiếu kiện đất đai…

Đảng cũng thấy rằng không thể dựa vào giai cấp công nhân vì trình độ “giác ngộ” của họ quá kém, nếu thả lỏng thì rất có thể xảy ra một dạng nào đó của “Mùa xuân Ả rập”. Như vậy, lực lượng duy nhất mà đảng có thể tin cậy được là lực lượng công an và phần nào đó là quân đội. Tuy nhiên, rất có thể sắp tới sẽ có điều tra để thanh trừng những nhân vật bị coi là “cơ sở của Trung Quốc” có trách nhiệm trong bạo loạn vừa rồi.

Tóm lại, khả năng lớn nhất là sẽ có sự tránh xa dần Trung Quốc nhưng không phải tránh xa mô hình và ý thức hệ của Trung Quốc mà là tránh xa “quốc gia” Trung Quốc. Nhưng một phiên bản lỗi của Trung Quốc, cô đơn lạc lõng trong thế giới văn minh làm sao có thể kháng cự lại Trung Quốc một cách hiệu quả đây [3]?

T.N.

[1] Có thể thấy từ đầu năm thủ tướng Dũng có vẻ rất tích cực trong việc thúc đẩy cổ phần hóa DNNN, một vấn đề mà ông này không hào hứng trong suốt hơn một nhiệm kỳ qua. Điều này có thể liên quan tới động cơ chính trị là thủ tướng Dũng sẽ chạy đua vào chức TBT và không muốn thủ tướng kế nhiệm mình có được một bệ đỡ quyền lực quan trọng là hệ thống các DNNN hay tập đoàn khổng lồ như trong nhiệm kỳ của thủ tướng Dũng.

[2]  Mấy ngày gần đây trên mạng có lan truyền các câu chuyện là sau khi diễn ra bạo động ở các KCN, vẫn có nhiều nhóm người đi thuê người dân biểu tình. Điều này rất hoang đường nhưng lại được rất nhiều người tin, kể cả những người có học. Nếu có lý trí sẽ thấy ngay điều này là không thể vì nhiều người thế sao công an không bắt được ai và Việt Tân cũng chả dại gì mà dính vào việc kích động bạo lực để bị xử theo luật chống khủng bố của Mỹ.

[3] Một điều dễ nhận thấy là trong lịch sử Việt Nam, ngay cả những triều đại đánh thắng Trung Quốc thì rồi cũng lại cũng lại sao gần như y nguyên thể chế, luật pháp, cách tổ chức nhà nước của Trung Quốc. Sau này Nhật Bản và Hàn Quốc đã thoát ly được mô hình Trung Quốc nhưng Việt Nam thì gần chưa bao giờ thoát được. Ngay cả hiện nay, trong những người đảng viên “dân tộc” nhất, hô hào “chống Trung Quốc” nhất thì cũng vẫn học y nguyên theo mô hình Trung Quốc vô thức hoặc có ý thức. Theo tác giả, hiện nay khái niệm “độc lập dân tộc” tức là thoát được việc lệ thuộc về kinh tế, tư tưởng, thể chế, ý thức hệ chứ không chỉ là độc lập về “lãnh thổ”.

Tác giả gởi cho viet-studies ngày 18-5-14

Nguồn: viet-studies.info

Tàu lạ, máy bay quen

Unknown | 9:59:00 PM | 0 comments

Hai ngày qua cùng lúc có hai thông tin với nội dung căn bản hoàn toàn giống nhau: một về vụ mất tích của chiếc máy bay hành khách của hãng hàng không Malaysia; và một về "tàu lạ" khống chế, cướp phá tàu cá của Việt Nam xem thêm tại đây . Cả hai vụ việc đều xảy ra trên biển Đông, đều mang nội dung nhân đạo và có yếu tố khủng bố. Vụ máy bay mất tích gây thiệt hại lớn và mang tính chất quốc tế nhưng không thiết thân đối với Việt Nam trong khi vụ tàu cá hoàn toàn xảy ra trong vùng biển của Việt Nam gây thiệt hại nặng nề trực tiếp đối với dân chài Việt Nam, và đây chỉ là vụ mới nhất trong hàng ngàn vụ đã xảy ra.

Tuy nhiên, qua cách thức đưa tin và điều hành xử lý của nhà chức trách Việt Nam cho thấy một sự mất cân đối khó hiểu. Nó được thể hiện từ khâu phát ngôn đến khâu chỉ đạo các ngành, các cấp và việc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi mọi sự "ưu ái" dồn cho vụ máy bay mất tích với hàng trăm chuyến xuất kích của máy bay và tàu thủy (chắc chắn là rất tốn kém) được điều đi phục vụ việc tìm kiếm cứu hộ đối với chiếc máy bay của Malaysia thì chỉ một vài tờ báo mạng đưa tin chung chung về "tàu lạ" khống chế tàu cá của Nha Trang, tuyệt nhiên không thấy phương tiện, lực lượng nào tham gia ứng cứu. Đây không phải lần đầu dân chài bị bỏ mặc trước hành động cướp phá, phạt vạ của các lực lượng Trung Quốc. Điều đáng nói là, đổi lại sự đôn đáo của Việt Nam trong vụ máy bay mất tích, phía Trung Quốc lại lên tiếng nghi ngờ năng lực của Việt Nam đồng thời tìm cách lợi dụng vụ này để đưa thêm lực lượng vào biển Đông.

Vẫn biết đây chỉ là một biểu hiện nữa cho thấy bộ mặt thật của ông "bạn 4 tốt, 16 chữ vàng" đối với Việt Nam mà họ luôn coi là "thuộc quốc" của Thiên triều. Nhưng sẽ không thừa để nhắc lại câu hỏi: Tại sao Việt Nam với tư cách một quốc gia độc lập có chủ quyền với bề dầy lịch sử dân tộc hơn 4.000 mà lại có cách hành xử không tương xứng như vậy? Có người sẽ biện minh bằng điệp khúc "sách lược mềm dẻo, khôn khéo...". Nhưng thử hỏi mềm dẻo khôn khéo gì thì cũng phải đặt danh dự của của tổ quốc và lợi ích của người dân lên trên hết chứ? Hy vọng rằng đó không phải là chiếc mặt nạ che đậy sự giả dối đớn hèn vị kỷ của một nhóm lợi ích.

Trung Quốc có đánh Việt Nam nữa không?

Unknown | 12:02:00 PM | 0 comments
35 năm nay cứ vào dịp 17/2 hàng năm không chỉ người Việt Nam mà người Trung Quốc và thế giới không khỏi phân vân: Liệu Trung Quốc lại đánh Việt Nam (?), nếu có thì bao giờ, khởi chiến từ đâu và như thế nào...(?) Mối lo này sẽ mãi còn đó chừng nào tư tưởng Đại Hán bành trướng vẫn còn, ít nhiều chỉ phụ thuộc vào thế mạnh yếu của nó trong mối tương quan lực lượng mà thôi. 

Tàu cá Trung Quốc dàn hàng ngang với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tiến ra biển Đông
Trong những năm gần đây cùng với một Trung Quốc "đang trỗi dậy" khá thành công thì các mối "họa Trung Hoa" cũng ngày càng tăng lên đối với nhân loại. Đó là sự thật không chỉ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng mà cả trong lĩnh vực an ninh lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục, môi trường và sự phát triển nói chung. Chính vì thực tế này mà một tài liệu nghiên cứu của Australia đánh giá Trung Quốc là hiểm họa số một, và Thủ tướng Nhật Bản mới đây ví Trung Quốc như Đức trước thế chiến II. Trên thực địa, các lực lượng quân sự Trung Quốc đang dương oai diễu võ không chỉ trong các vùng biển quốc tế mà còn trong vùng biển, vùng trời của các nước láng giềng từ biển Hoa Đông xuống biển Đông. Tình hình cho thấy giới lãnh đạo hiện thời của nước này đã bỏ qua lời giáo huấn "ẩn mình chờ thời" của ông Đặng Tiểu Bình quá cố và nóng lòng muốn thực hiện tham vọng bá chủ càng sớm càng tốt, trong đó việc trước tiên là độc chiếm biển Đông mà họ trân tráo tuyên bố là "lợi ích cốt lõi". Để làm điều này họ chọn cách bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp công lý và đạo lý. 

Báo Úc: Trung Quốc là hiểm họa số 1
Lính Trung Quốc đằng đằng sát khí 
Trong bối cảnh nêu trên tình hình quan hệ Việt-Trung diễn biến hết sức phức tạp và căng thẳng trong nhiều năm nay. Có lẽ không một quốc gia nào giữa thời bình lại đem ra trưng cầu dân ý xem có nên đánh nước nọ nước kia...và đánh như thế nào. Vậy mà người Trung Quốc làm điều đó, và họ nói kết quả cho thấy có tới  80% dân chúng cùng vang "Việt Nam", vì (cũng theo họ) Việt Nam yếu kém nhất trong số 5 nước có tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông và vì Việt Nam phản bội Trung Quốc...  Cổ vũ cho tư tưởng  hiếu chiến ngạo mạn này, một tướng Trung Quốc tuyên bố: "Nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại..." và rằng "Thực lực quốc gia và  quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc".  Đánh giá Việt Nam yếu kém là vậy, nhưng họ lại tung ra luận điệu "Phải đánh Philipin trước" mặc dù biết rằng đằng sau Philipin có đồng minh Hoa Kỳ mà họ thực sự lo ngại. Trong khi cho công khai tuyên truyền trong dân chúng tư tưởng  hiếu chiến  kiêu căng hống hách thù địch với Việt Nam, nhưng giới lãnh đạo cấp cao ở Trung Nam Hải lại áp dụng chiến thuật vừa ve vãn vừa đe nẹt không muốn để Việt Nam cải thiện quan hệ với Mỹ, ASEAN và các đối tác quan trọng khác. Họ khéo léo gợi lên luận điệu "hai bên ngầm hiểu" rằng "Anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “Tôi không đánh anh, anh không tham gia”... như thể để hướng dẫn cách ứng xử cho Việt Nam vậy (!). 

Kết hợp những động thái  này với thực tế diễn biến tình hình, có thể thấy sở dĩ Bắc Kinh chần chừ chưa khai chiến là do lo ngại sự can thiệp của Mỹ và sự phản ứng khó lường của quốc tế.  Nhưng Bắc Kinh cũng tin rằng mối lo ngại đó có thể xảy ra trong trong trường hợp chiến sự kéo dài, tức là nếu đánh nhanh thắng nhanh thì có thể tránh được (!). Tham vọng đã được tuyên bố của Trung Quốc là chiếm trọn biển Đông mà xương sống của nó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thiếu một trong hai quần đảo này coi như thất bại. Mặt khác, do lo lắng mất cơ hội "thu hồi" các đảo nếu kéo dài tình trạng mà họ cho là "bị nước ngoài chiếm đóng" nên Bắc Kinh có thể phạm sai lầm. Mà hầu hết các cuộc chiến tranh thường là kết cục của một sự sai lầm.  Do đó, hoàn toàn chưa thể loại bỏ khả năng một lần nữa lại nổ ra xung đột vũ trang Trung-Việt; chỉ có điều nó sẽ nổ ra lúc nào và quy mô nào. Về câu hỏi này, có thể thấy Bắc Kinh không dại gì dùng chiến tranh tổng lực chỉ để chiếm mấy hòn đảo ngoài khơi. Nhưng Bắc Kinh cũng không chịu chia sẻ với ai cả. Thế trận buộc Việt Nam luôn ở thế phòng thủ, và cách phòng thủ hữu hiệu nhất là phải luôn đề cao cảnh giác trước kẻ thù trên cơ sở đoàn kết toàn dân trên dưới một lòng, dựa vào nội lực đồng thời tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế tập trung vào mục tiêu bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Trung Quốc hiện đại hóa vũ trang phục vụ mục tiêu tiến ra biển lớn  
Dù suy diễn theo hướng nào, và mối lo chiến tranh là có thực hay chỉ để phục vụ chiến thuật (của cả Trung Quốc lẫn của các bên liên quan) nhưng không nên quên rằng "dương đông kích tây" vốn là một binh pháp cổ truyền của người Hán. Với binh pháp đó, Bắc Kinh đã đánh chiếm Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn năm 1974 khi lực lượng hải quân của họ chưa hiện đại và có sức mạnh áp đảo như bây giờ. Bắc Kinh cũng đã quyết định đánh Việt Nam qua biên giới phía Bắc năm 1979 với tình trạng trang thiết bị mà tự họ đánh giá lạc hậu so với Việt Nam lúc bấy giờ. Và Bắc Kinh cũng đã cho quân bất ngờ đánh chiếm một số đảo và bãi đá tại Trường Sa của Việt Nam năm 1988 giữa lúc quan hệ hai nước đang bình thường. 

Tóm lại, người Trung Quốc có thể làm những điều không bình thường và không theo quy tắc hoặc thông lệ quốc tế để đạt mục đích cốt lõi mà họ tự đề ra cho mình. Đó cũng là một đặc tính nổi bật của người Hán. Lịch sử hình thành quốc gia của họ từ lúc bé bằng hạt ngô thời Hoa Hạ đến khi lớn bằng con gà mái ngày nay được viết bằng máu của hàng trăm cuộc chiến tranh bành trướng lãnh thổ. Họ chỉ phải dừng lại ở nơi họ bị buộc phải dừng lại. Họ không dừng bước trước thái độ quỵ lụy van xin yếu hèn. Sức mạnh của Việt Nam là ở tính chính nghĩa và công luận- điều mà Việt Nam cần chú trọng phát huy, làm cho nhân dân Trung Quốc và thế giới hiểu đúng thực chất vấn đề qua đó ủng hộ Việt Nam. Vai trò của ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân, rất cần thiết. Việc thể hiện thái độ của quần chúng nhân dân không nhất thiết phải răm rắp giống như Chính quyền.               



Bắc Kinh cam kết giải quyết tranh chấp theo cách hòa bình

Unknown | 9:22:00 AM | 0 comments
Tuổi trẻ 15/02/2014 08:03 (GMT + 7)- Hôm qua, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã đến Trung Quốc trong một thời điểm nhạy cảm khi khu vực đang nóng bỏng với vấn đề CHDCND Triều Tiên và những đòi hỏi của Bắc Kinh về chủ quyền trên biển.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bắt tay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình - Ảnh: Reuters


Theo Tân Hoa xã, ông Kerry đã hội kiến với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và thảo luận với Ngoại trưởng Vương Nghị. Vấn đề CHDCND Triều Tiên là một trong những ưu tiên hàng đầu của ông Kerry khi đến Bắc Kinh. Trong cuộc họp báo với ông Vương, ông Kerry cho biết ông và ông Tập đã có một cuộc trao đổi “tích cực, mang tính xây dựng” về những thách thức liên quan đến CHDCND Triều Tiên. Truyền thông Trung Quốc cũng đưa tin ông Tập đã nói rõ quan điểm của Trung Quốc về CHDCND Triều Tiên.

Trước đó tại Hàn Quốc, ông Kerry nhấn mạnh Bình Nhưỡng phải thể hiện mong muốn đàm phán và đáp ứng các cam kết giải trừ hạt nhân. Ông cho rằng Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực thuyết phục Bình Nhưỡng. “Không quốc gia nào có ảnh hưởng lớn hơn đối với những hành động của CHDCND Triều Tiên như Trung Quốc” - ông Kerry đánh giá. Sau đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh tuyên bố Trung Quốc đã nỗ lực để đưa CHDCND Triều Tiên trở lại bàn đàm phán.

Vấn đề biển Đông và biển Hoa Đông cũng đã được hai lãnh đạo ngoại giao đề cập. Ông Kerry kêu gọi Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, tránh đối đầu, không thực hiện các hành vi mang tính cưỡng bức hoặc đơn phương. Ông cho rằng đã đến lúc Trung Quốc phải ký Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) với ASEAN để giảm căng thẳng trong các tranh chấp lãnh thổ. Ông Kerry cũng cảnh báo Trung Quốc không nên lập một vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Đông bởi hành vi đó sẽ gây bất ổn trong khu vực.

Theo Tân Hoa xã, ông Vương đã nói với ông Kerry rằng Bắc Kinh cam kết giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông và biển Hoa Đông. Tuy nhiên, ông Vương cũng hi vọng Mỹ tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc, “xử lý vấn đề khách quan và công bằng”, không đứng về bên nào.

Trên thực tế, ngay trước khi rời Seoul để đến Bắc Kinh, ông Kerry đã nhấn mạnh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Tokyo kiểm soát nằm trong phạm vi của hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật. Do đó Washington sẽ bảo vệ Tokyo nếu quần đảo này bị một nước thứ ba tấn công. Đó là thông điệp không thể rõ ràng hơn đối với Bắc Kinh.

Theo Reuters, cũng vừa mới đây đô đốc hải quân Mỹ Jonahan Greenert khi đến thăm Philippines đã khẳng định Mỹ sẽ giúp đỡ Philippines trong trường hợp xung đột với Trung Quốc. Khi được hỏi Washington sẽ làm gì nếu Bắc Kinh gây hấn với Manila trên biển Đông, ông Greenert tuyên bố: “Tất nhiên là chúng tôi sẽ giúp các bạn. Chúng tôi có nghĩa vụ phải làm như thế bởi giữa chúng ta có hiệp ước phòng thủ chung”.

Phóng viên: Hiếu Trung

Truyền thông Trung Quốc chỉ trích lãnh đạo ngoại giao Mỹ
Trong bầu không khí không mấy thân thiện, giới truyền thông Trung Quốc đã đón chào ông Kerry đến Bắc Kinh bằng những bài viết mang tính chỉ trích. Tân Hoa xã cảnh báo Mỹ “nên hiểu rằng Trung Quốc sẽ không ngần ngại thực hiện các bước bảo vệ lợi ích quốc gia chủ chốt”. Hãng tin này cũng chỉ trích Washington đã ủng hộ Tokyo và phản ứng tiêu cực với vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Bắc Kinh. Thời Báo Hoàn Cầu cho rằng chiến lược “xoay trục châu Á” của Mỹ đã gây sức ép lên Trung Quốc.

Hoàng Sa: VN cần hành động để thế giới hiểu

Unknown | 6:48:00 AM | 0 comments

Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế.
>>40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
GS Ngô Vĩnh Long
>> Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?
>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa
LTS: Ngày 11.1.1914, nhân kỷ niệm 40 năm Hải Quân Trung Quốc cưỡng chiếm phần còn lại của Hoàng Sa từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, một nhóm học giả Mỹ đã đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo tại không viên Đại học Harvard. Tuần Việt Nam có bài phỏng vấn GS Lịch sử Ngô Vĩnh Long của Đại học Maine (Hoa Kỳ), người có bài tham luận lại hội thảo này.



Như trong phần giới thiệu, mục đích của những người tổ chức hội thảo là tìm ra khả năng câu chuyện Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, thay vì song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc như hiện nay. Vậy kết quả hội thảo có nêu ra được những ý kiến nào thuyết phục không?
Theo tôi hiểu, những người tổ chức hội thảo không những muốn vấn đề Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, mà còn dưới khía cạnh đa chiều.
Hoàng Sa chỉ là điểm khởi đầu vì kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm toàn bộ Hoàng Sa, tức ngày 17-19 tháng Giêng năm 1974. Nhưng từ đó đến nay Trung Quốc đã tiếp tục lấn chiếm các khu vực khác trên Biển Đông vào 1988, hay 1995.
Do đó, hội thảo có phần trình bày về khía cạnh lịch sử của không những Hoàng Sa, mà cả về Trường Sa, phần về địa chính trị và an ninh khu vực, phần về  một số khả năng hợp tác trong khu vực, và phần về các giải pháp qua lăng kính luật pháp, ngoại giao và chính trị.
Về câu chuyện Hoàng Sa, hiện nay khá gây tranh cãi trong giới học giả. Có những học giả quốc tế, như Stein Tonnesson (Na Uy), nói rằngViệt Nam đấu tranh chủ quyền là vô vọng khi so sánh thực lực giữa hai nước.
Trong khi đó có học giả người Việt thì lại cho rằng cần phải tiếp tục đấu tranh đòi chủ quyền Hoàng Sa, bởi ngoài ý nghĩa tượng trưng, thực tế lịch sử Việt Nam cho thấy từ Thục Phán tới Hai Bà Trưng mất  khoảng 300 năm, rồi khoảng 500 năm nữa mới có Lý Bí, và gần 500 năm nữa mới đến Ngô Quyền và Nhà Lý thực sự là kỷ nguyên độc lập. Như vậy, cuộc đấu tranh giành lại Hoàng Sa cũng vẫn có thể thành công, dù rất lâu dài.
Ngoài ra, Việt Nam không chỉ đối mặt tay đôi với Trung Quốc, như trong lịch sử ngày xưa nữa, mà còn có cộng đồng quốc tế và khu vực đứng bên cạnh...
Xin cho biết quan điểm của ông?
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
Hải chiến Hoàng Sa khai hỏa
Một số học giả quốc tế nghiên cứu vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, hay Biển Đông trong một giai đoạn ngắn và từ khía cạnh chuyên môn của họ cho nên họ không thấy được vấn đề lớn và vấn đề lâu dài. Đối với Hoàng Sa, nếu Việt Nam chỉ chú trọng vào việc đấu tranh chủ quyền thì có thể là "vô vọng" vì vô hình trung làm cho người ta nghĩ đây chỉ là việc song phương giữa  Việt Nam và Trung Quốc, việc "trứng chọi đá".
Nhưng vấn đề Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực, giết 74 thuỷ thủ của Nhà nước Việt Nam Cộng Hoà, rồi từ đó tiếp tục bành trướng gây mất an ninh cho toàn khu vực thì vấn đề không phải chỉ song phương mà là đa phương.
An ninh trên biển của phần lớn các nước trên thế giới có lưu thông hàng hải qua khu vực Biển Đông cũng bị Trung Quốc đe doạ qua nhiều hình thức. Khoảng 90% mậu dịch quốc tế là trên biển, và khoảng 60% tổng số mậu dịch nầy là qua Biển Đông.
Do đó, Việt Nam nên  thường phải nhắc nhở thế giới về lợi ích và trách nhiệm chung bằng cách chứng minh cho thế giới biết vấn đề đấu tranh với Trung Quốc về Hoàng Sa không phải chỉ vì "tranh chấp chủ quyền" trên các hòn đảo. Ngoài vấn đề an ninh còn có vấn đề luật quốc tế, trong đó có các điều khoản của hiến pháp Liên Hiệp Quốc về việc dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ, hay lãnh hải, của nước khác, và đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Do đó, Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế. Việt Nam là nước có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực Biển Đông, và Việt Nam bị "đường 9 đoạn" cùng những hành động ngang trái khác của Trung Quốc đe doạ và gây thiệt hại lớn nhất. Vì vậy, tiếng nói của Việt Nam có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn hiện tại. Tương lai gần hay xa sẽ ra sao là tuỳ hành động hiện nay có cương quyết và hiệu quả hay không.
Chuyến đi Quảng Ngãi năm ngoái dự Hội thảo về Hoàng Sa do đại học Phạm Văn Đồng tổ chức có giúp ích gì cho ông trong hội thảo vừa rồi? Theo ông, Việt Nam có nên tiếp tục những hội thảo về Hoàng Sa như vậy, nhất là về vấn đề chứng cớ lịch sử để cung cấp thêm thông tin cho các học giả quốc tế?
Tôi đã đi Quảng Ngãi và đảo Lý Sơn nhiều lần trong những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với vai trò một người làm bản đồ.
Tôi cũng đã nghiên cứu lịch sử vùng nầy và đã tiếp tục theo dõi tình hình diễn biến trong những năm qua. Cho nên, đối với riêng tôi, việc ích lợi nhất là được về thăm và làm quen với một số đồng nghiệp ở Quảng Ngãi.
Đối với một số học giả quốc tế mà tôi có trao đổi thì phần đông cũng cho vấn đề gặp gỡ là quan trọng, còn vấn đề chứng cớ lịch sử được cung cấp thì có một số thông tin lý thú cho một vài người vì nó cho họ biết về một số quan điểm của phía Việt Nam.
Nhưng, như Tiến sĩ Vũ Quang Việt lưu ý tại hội thảo vừa qua ở Harvard,  vấn đề lịch sử chủ quyền phải được cung cấp và phân tích trên khía cạnh luật quốc tế mới có ích.
Xin cám ơn Giáo sư.
Huỳnh Phan (thực hiện)

Lệnh cấm mới của Bắc Kinh tại Biển Đông: Cần sự phản đối tập thể của ASEAN

Unknown | 10:11:00 AM | 0 comments

H2
Nhà cầm quyền Trung Quốc mới công bố lệnh cấm đối với tàu các nước vào Biển Đông (xem sơ đồ vùng cấm bên). Theo sơ đồ này, đường cấm mới áp sát lãnh thổ các nước ven Biển Đông, chỉ cách Đà Nẵng của Việt Nam khoản 50 km. Đây là một bước leo thang mới có tính toán kĩ lưỡng của nhà cầm quyền Trung Quốc.  Bước leo thanh "đòi chủ quyền"này đang bị đầu  dư luận khu vực và quốc tế lên án. Ngày 9-1 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki tuyên bố: “Việc hạn chế hoạt động đánh cá của các nước khác trên vùng biển tranh chấp ở biển Đông là hành vi khiêu khích và có thể gây nguy hiểm. Trung Quốc không hề đưa ra lời giải thích hay cơ sở luật pháp quốc tế nào đối với những yêu sách này. Quan điểm của chúng tôi luôn là các bên cần tránh những hành động đơn phương gây căng thẳng và hủy hoại cơ hội giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao và hòa bình”.
Ôn này cũng cho biết các quan chức ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối đến Chính phủ Trung Quốc.
Trong khi đó, báo Manila Standard Today đưa tin Chính phủ Philippines khẳng định sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nước này trước sự đe dọa của Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Philippines nhấn mạnh nước này sẵn sàng đối phó với việc tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Manila. “Chúng tôi sẽ bảo vệ nguồn tài nguyên của nước mình” - một người phát ngôn Bộ Quốc phòng Philippines cho biết.
Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định quy định mới của Trung Quốc là hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. “Các quy định này vi phạm tự do hàng hải và quyền đánh bắt cá trên biển theo UNCLOS - Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh - Hành vi của Trung Quốc sẽ làm leo thang căng thẳng, khiến tình hình biển Đông thêm phức tạp, đe dọa hòa bình và ổn định khu vực”.
Giáo sư Renato C. De Castro thuộc ĐH De La Salle (Philippines) nói với Báo Tuổi Trẻ (Việt Nam): "Hành động của Trung Quốc không chỉ để khẳng định chủ quyền trên biển Đông và gây sức ép với các nước láng giềng mà còn là bài thử đối với quyết tâm “tái cân bằng lực lượng” của Mỹ tại châu Á". Ông cảnh báo tàu cá các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philippines sẽ phải đối mặt với các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và cả tàu hải quân nước này.
Trước đó, Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc khi trả lời Tuổi trẻ nhận định đây là hành vi leo thang căng thẳng nghiêm trọng của chính quyền Trung Quốc. “Trung Quốc có quyền quản lý trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý tính từ đường bờ biển đảo Hải Nam. Tuy nhiên với quy định này Bắc Kinh đã hành động bất hợp pháp, vượt ra ngoài phạm vi hợp pháp của nước này”.
Giáo sư Thayer bình luận: "Quy định mới này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho những gì chính quyền Trung Quốc đã làm từ nhiều năm nay. Đó là quấy rối tàu cá nước ngoài trên biển Đông, thu giữ lượng cá đánh bắt được và các thiết bị, phạt tiền thủy thủ... “Hành động của chính quyền tỉnh Hải Nam sẽ làm leo thang căng thẳng và gây phương hại, nếu không muốn nói là phá hủy các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC)”.Ông cũng cho rằng vụ việc này một lần nữa cho thấy chiến lược của Trung Quốc là dùng luật pháp trong nước để thúc đẩy việc đòi chủ quyền. “Phải nhấn mạnh một lần nữa rằng vùng biển trên là vùng biển quốc tế. Với hành động này, Bắc Kinh thể hiện rõ ý đồ buộc các nước phải thừa nhận việc nước này đòi chủ quyền trên biển Đông. Tuy nhiên biển Đông rất rộng và chính quyền Trung Quốc sẽ khó có thể thực thi quy định này ở khắp mọi nơi trên vùng biển này”.
Tiến sĩ Ian Storey của Viện nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore thì xác định: "Trung Quốc chỉ có quyền buộc tàu bè nước ngoài xin phép hoạt động trong EEZ của nước này tính từ bờ biển đảo Hải Nam. Việc quy định mới áp dụng bên ngoài phạm vi EEZ của Trung Quốc là hành vi sai trái, có thể gây căng thẳng với các nước láng giềng trong khu vực. “Các nước có thể phản ứng bằng cách điều động tàu bảo vệ các đoàn tàu cá, nhưng đây là biện pháp tốn kém và làm tăng nguy cơ đụng độ trên biển”.
Trước việc này, ngày 10-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã lên tiếng phản đối hàng loạt hành động mà Trung Quốc thực hiện gần đây nhằm hiện thực hóa những yêu sách phi pháp của mình ở biển Đông. Ông Nghị đã yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái đó để đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực. “Những hoạt động nêu trên của phía Trung Quốc là bất hợp pháp và vô giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở biển Đông theo Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), không phù hợp với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc, làm phức tạp thêm tình hình biển Đông”.


Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đinh Hoàng Thắng - nguyên đại sứ Việt Nam tại Hà Lan - cho biết đây không phải là việc Trung Quốc nhắc lại lệnh cấm thường niên từ tháng 5 đến tháng 8 mà là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra yêu cầu pháp lý rõ ràng đối với ngư trường tranh chấp mà Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và các nước khác trong khu vực cùng tuyên bố chủ quyền. “Các nước lớn và các thành viên ASEAN, trong đó có Việt Nam, nếu làm ngơ hay phản ứng không đúng mức đối với cái lệnh phi pháp này thì Bắc Kinh sẽ lấn tới và hậu quả là khôn lường. Nhưng nếu tất cả các nước có chung tiếng nói, lấy UNCLOS làm hệ quy chiếu, lấy chính những tuyên bố và cam kết song/đa phương của Trung Quốc để đấu lại thì vấn đề sẽ khác” .
Nhìn toàn cảnh thấy rằng, sau vụ Bắc Kinh công bố Vùng nhận dạng hàng không ADIZ (thực chất là vùng kiểm soát bay) trên biển Hoa Đông đã làm dấy lên sự phản đối rất quyết liệt từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Mĩ, Úc và nhiều nước khác. Dư luân cho rằng sớm muộn Trung Quốc cũng sẽ công bố ADIZ  trên Biển Đông. Biện pháp cấm tàu mới đây có thể là một phép thử để căn cứ vào mức độ phản đối quốc tế Bắc Kinh sẽ tính bước tiếp theo. Trong bối cảnh này, một sự phản đối tập thể của khối ASEAN là rất cần thiết. Tuy nhiên liêu ASEAN có thể thống nhất với nhau đưa ra một tuyên bố phản đối tập thể hay không còn phụ thuộc vào nội tình của khối này./.