Showing posts with label Thế trận Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Thế trận Việt Nam. Show all posts

Trung Quốc có đánh Việt Nam nữa không?

Unknown | 12:02:00 PM | 0 comments
35 năm nay cứ vào dịp 17/2 hàng năm không chỉ người Việt Nam mà người Trung Quốc và thế giới không khỏi phân vân: Liệu Trung Quốc lại đánh Việt Nam (?), nếu có thì bao giờ, khởi chiến từ đâu và như thế nào...(?) Mối lo này sẽ mãi còn đó chừng nào tư tưởng Đại Hán bành trướng vẫn còn, ít nhiều chỉ phụ thuộc vào thế mạnh yếu của nó trong mối tương quan lực lượng mà thôi. 

Tàu cá Trung Quốc dàn hàng ngang với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tiến ra biển Đông
Trong những năm gần đây cùng với một Trung Quốc "đang trỗi dậy" khá thành công thì các mối "họa Trung Hoa" cũng ngày càng tăng lên đối với nhân loại. Đó là sự thật không chỉ trong lĩnh vực an ninh quốc phòng mà cả trong lĩnh vực an ninh lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục, môi trường và sự phát triển nói chung. Chính vì thực tế này mà một tài liệu nghiên cứu của Australia đánh giá Trung Quốc là hiểm họa số một, và Thủ tướng Nhật Bản mới đây ví Trung Quốc như Đức trước thế chiến II. Trên thực địa, các lực lượng quân sự Trung Quốc đang dương oai diễu võ không chỉ trong các vùng biển quốc tế mà còn trong vùng biển, vùng trời của các nước láng giềng từ biển Hoa Đông xuống biển Đông. Tình hình cho thấy giới lãnh đạo hiện thời của nước này đã bỏ qua lời giáo huấn "ẩn mình chờ thời" của ông Đặng Tiểu Bình quá cố và nóng lòng muốn thực hiện tham vọng bá chủ càng sớm càng tốt, trong đó việc trước tiên là độc chiếm biển Đông mà họ trân tráo tuyên bố là "lợi ích cốt lõi". Để làm điều này họ chọn cách bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp công lý và đạo lý. 

Báo Úc: Trung Quốc là hiểm họa số 1
Lính Trung Quốc đằng đằng sát khí 
Trong bối cảnh nêu trên tình hình quan hệ Việt-Trung diễn biến hết sức phức tạp và căng thẳng trong nhiều năm nay. Có lẽ không một quốc gia nào giữa thời bình lại đem ra trưng cầu dân ý xem có nên đánh nước nọ nước kia...và đánh như thế nào. Vậy mà người Trung Quốc làm điều đó, và họ nói kết quả cho thấy có tới  80% dân chúng cùng vang "Việt Nam", vì (cũng theo họ) Việt Nam yếu kém nhất trong số 5 nước có tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông và vì Việt Nam phản bội Trung Quốc...  Cổ vũ cho tư tưởng  hiếu chiến ngạo mạn này, một tướng Trung Quốc tuyên bố: "Nếu hải quân hai nước Trung-Việt xảy ra chiến tranh tại quần đảo Hoàng Sa hoặc quần đảo Trường Sa, quân đội Việt Nam chỉ có thể chống đỡ, không có sức đánh trả, cuối cùng phải chịu thất bại..." và rằng "Thực lực quốc gia và  quân đội hiện nay của Việt Nam căn bản không chịu nổi một trận đánh của Trung Quốc".  Đánh giá Việt Nam yếu kém là vậy, nhưng họ lại tung ra luận điệu "Phải đánh Philipin trước" mặc dù biết rằng đằng sau Philipin có đồng minh Hoa Kỳ mà họ thực sự lo ngại. Trong khi cho công khai tuyên truyền trong dân chúng tư tưởng  hiếu chiến  kiêu căng hống hách thù địch với Việt Nam, nhưng giới lãnh đạo cấp cao ở Trung Nam Hải lại áp dụng chiến thuật vừa ve vãn vừa đe nẹt không muốn để Việt Nam cải thiện quan hệ với Mỹ, ASEAN và các đối tác quan trọng khác. Họ khéo léo gợi lên luận điệu "hai bên ngầm hiểu" rằng "Anh không đánh tôi, tôi không tham gia” và “Tôi không đánh anh, anh không tham gia”... như thể để hướng dẫn cách ứng xử cho Việt Nam vậy (!). 

Kết hợp những động thái  này với thực tế diễn biến tình hình, có thể thấy sở dĩ Bắc Kinh chần chừ chưa khai chiến là do lo ngại sự can thiệp của Mỹ và sự phản ứng khó lường của quốc tế.  Nhưng Bắc Kinh cũng tin rằng mối lo ngại đó có thể xảy ra trong trong trường hợp chiến sự kéo dài, tức là nếu đánh nhanh thắng nhanh thì có thể tránh được (!). Tham vọng đã được tuyên bố của Trung Quốc là chiếm trọn biển Đông mà xương sống của nó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thiếu một trong hai quần đảo này coi như thất bại. Mặt khác, do lo lắng mất cơ hội "thu hồi" các đảo nếu kéo dài tình trạng mà họ cho là "bị nước ngoài chiếm đóng" nên Bắc Kinh có thể phạm sai lầm. Mà hầu hết các cuộc chiến tranh thường là kết cục của một sự sai lầm.  Do đó, hoàn toàn chưa thể loại bỏ khả năng một lần nữa lại nổ ra xung đột vũ trang Trung-Việt; chỉ có điều nó sẽ nổ ra lúc nào và quy mô nào. Về câu hỏi này, có thể thấy Bắc Kinh không dại gì dùng chiến tranh tổng lực chỉ để chiếm mấy hòn đảo ngoài khơi. Nhưng Bắc Kinh cũng không chịu chia sẻ với ai cả. Thế trận buộc Việt Nam luôn ở thế phòng thủ, và cách phòng thủ hữu hiệu nhất là phải luôn đề cao cảnh giác trước kẻ thù trên cơ sở đoàn kết toàn dân trên dưới một lòng, dựa vào nội lực đồng thời tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế tập trung vào mục tiêu bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Trung Quốc hiện đại hóa vũ trang phục vụ mục tiêu tiến ra biển lớn  
Dù suy diễn theo hướng nào, và mối lo chiến tranh là có thực hay chỉ để phục vụ chiến thuật (của cả Trung Quốc lẫn của các bên liên quan) nhưng không nên quên rằng "dương đông kích tây" vốn là một binh pháp cổ truyền của người Hán. Với binh pháp đó, Bắc Kinh đã đánh chiếm Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn năm 1974 khi lực lượng hải quân của họ chưa hiện đại và có sức mạnh áp đảo như bây giờ. Bắc Kinh cũng đã quyết định đánh Việt Nam qua biên giới phía Bắc năm 1979 với tình trạng trang thiết bị mà tự họ đánh giá lạc hậu so với Việt Nam lúc bấy giờ. Và Bắc Kinh cũng đã cho quân bất ngờ đánh chiếm một số đảo và bãi đá tại Trường Sa của Việt Nam năm 1988 giữa lúc quan hệ hai nước đang bình thường. 

Tóm lại, người Trung Quốc có thể làm những điều không bình thường và không theo quy tắc hoặc thông lệ quốc tế để đạt mục đích cốt lõi mà họ tự đề ra cho mình. Đó cũng là một đặc tính nổi bật của người Hán. Lịch sử hình thành quốc gia của họ từ lúc bé bằng hạt ngô thời Hoa Hạ đến khi lớn bằng con gà mái ngày nay được viết bằng máu của hàng trăm cuộc chiến tranh bành trướng lãnh thổ. Họ chỉ phải dừng lại ở nơi họ bị buộc phải dừng lại. Họ không dừng bước trước thái độ quỵ lụy van xin yếu hèn. Sức mạnh của Việt Nam là ở tính chính nghĩa và công luận- điều mà Việt Nam cần chú trọng phát huy, làm cho nhân dân Trung Quốc và thế giới hiểu đúng thực chất vấn đề qua đó ủng hộ Việt Nam. Vai trò của ngoại giao, trong đó có ngoại giao nhân dân, rất cần thiết. Việc thể hiện thái độ của quần chúng nhân dân không nhất thiết phải răm rắp giống như Chính quyền.               



Hoàng Sa: VN cần hành động để thế giới hiểu

Unknown | 6:48:00 AM | 0 comments

Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế.
>>40 năm Hải chiến Hoàng Sa: Khi nước lớn quyết ra tay
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
GS Ngô Vĩnh Long
>> Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?
>> Sau 40 năm nhìn lại hải chiến Hoàng Sa
LTS: Ngày 11.1.1914, nhân kỷ niệm 40 năm Hải Quân Trung Quốc cưỡng chiếm phần còn lại của Hoàng Sa từ tay Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, một nhóm học giả Mỹ đã đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo tại không viên Đại học Harvard. Tuần Việt Nam có bài phỏng vấn GS Lịch sử Ngô Vĩnh Long của Đại học Maine (Hoa Kỳ), người có bài tham luận lại hội thảo này.



Như trong phần giới thiệu, mục đích của những người tổ chức hội thảo là tìm ra khả năng câu chuyện Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, thay vì song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc như hiện nay. Vậy kết quả hội thảo có nêu ra được những ý kiến nào thuyết phục không?
Theo tôi hiểu, những người tổ chức hội thảo không những muốn vấn đề Hoàng Sa được soi xét dưới khía cạnh đa phương, mà còn dưới khía cạnh đa chiều.
Hoàng Sa chỉ là điểm khởi đầu vì kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm toàn bộ Hoàng Sa, tức ngày 17-19 tháng Giêng năm 1974. Nhưng từ đó đến nay Trung Quốc đã tiếp tục lấn chiếm các khu vực khác trên Biển Đông vào 1988, hay 1995.
Do đó, hội thảo có phần trình bày về khía cạnh lịch sử của không những Hoàng Sa, mà cả về Trường Sa, phần về địa chính trị và an ninh khu vực, phần về  một số khả năng hợp tác trong khu vực, và phần về các giải pháp qua lăng kính luật pháp, ngoại giao và chính trị.
Về câu chuyện Hoàng Sa, hiện nay khá gây tranh cãi trong giới học giả. Có những học giả quốc tế, như Stein Tonnesson (Na Uy), nói rằngViệt Nam đấu tranh chủ quyền là vô vọng khi so sánh thực lực giữa hai nước.
Trong khi đó có học giả người Việt thì lại cho rằng cần phải tiếp tục đấu tranh đòi chủ quyền Hoàng Sa, bởi ngoài ý nghĩa tượng trưng, thực tế lịch sử Việt Nam cho thấy từ Thục Phán tới Hai Bà Trưng mất  khoảng 300 năm, rồi khoảng 500 năm nữa mới có Lý Bí, và gần 500 năm nữa mới đến Ngô Quyền và Nhà Lý thực sự là kỷ nguyên độc lập. Như vậy, cuộc đấu tranh giành lại Hoàng Sa cũng vẫn có thể thành công, dù rất lâu dài.
Ngoài ra, Việt Nam không chỉ đối mặt tay đôi với Trung Quốc, như trong lịch sử ngày xưa nữa, mà còn có cộng đồng quốc tế và khu vực đứng bên cạnh...
Xin cho biết quan điểm của ông?
Ngô Vĩnh Long, Hoàng Sa, Biển Đông, chủ quyền lãnh thổ, Harvard, hải chiến Hoàng Sa
Hải chiến Hoàng Sa khai hỏa
Một số học giả quốc tế nghiên cứu vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, hay Biển Đông trong một giai đoạn ngắn và từ khía cạnh chuyên môn của họ cho nên họ không thấy được vấn đề lớn và vấn đề lâu dài. Đối với Hoàng Sa, nếu Việt Nam chỉ chú trọng vào việc đấu tranh chủ quyền thì có thể là "vô vọng" vì vô hình trung làm cho người ta nghĩ đây chỉ là việc song phương giữa  Việt Nam và Trung Quốc, việc "trứng chọi đá".
Nhưng vấn đề Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực, giết 74 thuỷ thủ của Nhà nước Việt Nam Cộng Hoà, rồi từ đó tiếp tục bành trướng gây mất an ninh cho toàn khu vực thì vấn đề không phải chỉ song phương mà là đa phương.
An ninh trên biển của phần lớn các nước trên thế giới có lưu thông hàng hải qua khu vực Biển Đông cũng bị Trung Quốc đe doạ qua nhiều hình thức. Khoảng 90% mậu dịch quốc tế là trên biển, và khoảng 60% tổng số mậu dịch nầy là qua Biển Đông.
Do đó, Việt Nam nên  thường phải nhắc nhở thế giới về lợi ích và trách nhiệm chung bằng cách chứng minh cho thế giới biết vấn đề đấu tranh với Trung Quốc về Hoàng Sa không phải chỉ vì "tranh chấp chủ quyền" trên các hòn đảo. Ngoài vấn đề an ninh còn có vấn đề luật quốc tế, trong đó có các điều khoản của hiến pháp Liên Hiệp Quốc về việc dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ, hay lãnh hải, của nước khác, và đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Do đó, Việt Nam cần phải có những hành động, hoặc ủng hộ hoặc tự mình làm, để chứng minh cho thế giới biết là Việt Nam đấu tranh để bảo vệ an ninh và luật pháp quốc tế. Việt Nam là nước có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực Biển Đông, và Việt Nam bị "đường 9 đoạn" cùng những hành động ngang trái khác của Trung Quốc đe doạ và gây thiệt hại lớn nhất. Vì vậy, tiếng nói của Việt Nam có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn hiện tại. Tương lai gần hay xa sẽ ra sao là tuỳ hành động hiện nay có cương quyết và hiệu quả hay không.
Chuyến đi Quảng Ngãi năm ngoái dự Hội thảo về Hoàng Sa do đại học Phạm Văn Đồng tổ chức có giúp ích gì cho ông trong hội thảo vừa rồi? Theo ông, Việt Nam có nên tiếp tục những hội thảo về Hoàng Sa như vậy, nhất là về vấn đề chứng cớ lịch sử để cung cấp thêm thông tin cho các học giả quốc tế?
Tôi đã đi Quảng Ngãi và đảo Lý Sơn nhiều lần trong những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước với vai trò một người làm bản đồ.
Tôi cũng đã nghiên cứu lịch sử vùng nầy và đã tiếp tục theo dõi tình hình diễn biến trong những năm qua. Cho nên, đối với riêng tôi, việc ích lợi nhất là được về thăm và làm quen với một số đồng nghiệp ở Quảng Ngãi.
Đối với một số học giả quốc tế mà tôi có trao đổi thì phần đông cũng cho vấn đề gặp gỡ là quan trọng, còn vấn đề chứng cớ lịch sử được cung cấp thì có một số thông tin lý thú cho một vài người vì nó cho họ biết về một số quan điểm của phía Việt Nam.
Nhưng, như Tiến sĩ Vũ Quang Việt lưu ý tại hội thảo vừa qua ở Harvard,  vấn đề lịch sử chủ quyền phải được cung cấp và phân tích trên khía cạnh luật quốc tế mới có ích.
Xin cám ơn Giáo sư.
Huỳnh Phan (thực hiện)