Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts

Vinalines và Tờ-iếp Tiếp nặng Tiệc

Unknown | 11:50:00 PM | 0 comments
Trần Thị Hải Ý (Danlambao) - “Phần bác đồng chí Trung tướng Công an Hoàng Kông Tư đối với vụ BBC Nguyễn Hùng và cái video trực tuyến của đồng chí Vinalines Dương Chí Dũng thì đến 30/04/2014 này chưa biết sự thể sẽ ngã ngũ ra sao, thâm ý của bác đồng chí thật thụ là cái chi chi, nhưng dù thành công hay chỉ là trò xung phong chữa bệnh để xoán ngôi, bác đồng chí Kông Tư trong mắt Hải Ý em cũng đã xứng đáng được lưu danh sử xanh vì đã có đại công phát minh ra cách đánh vần / nghe kiểu mới trong tiếng Việt: Tờ-iếp Tiếp nặng Tiệc!”



* * *
Phản ứng gần gần như xe lửa cao tốc TGV của đồng chí Trung tướng công an Hoàng Kông Tư - thủ trưởng Cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công an Xã nghĩa Việt Nam – qua cuộc phỏng vấn trên trang CAND online ngày 25/04/204 (1), đòi truy tố và triệu tập phóng viên Ănglê gốc Việt Nguyễn Hùng – “một kẻ phản động lưu vong, tư tưởng phá hoại đặc sệt”(1), tác giả bài phóng sự về đồng chí Dương Chí Dũng và những triệu đô la “với nội dung xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn”(1) trên Blog đài BBC tiếng Việt ngày 24/04/2014, liên quan tới đại án Vinalines đang hót trên mạng làm Hải Ý em đây thật sự tâm phục tận đáy lòng cái tâm chí kông vô tư lợi cũng như cái tầm nghiệp vụ cực đỉnh của bác ấy, nên xin biểu đạt cái tài khoản tâm phục thành mớ ngôn phục ba láp, khích lệ bác Kông Tư nói riêng, Bộ Công an Xã nghĩa Việt Nam nói chung: trong khi chờ đợi kết quả có thể 99,99% toại ý quý vị đồng chí trong vụ Tiệp hay Tiệc này, hãy tiếp tục thò tứ chi ra khỏi biên giới chữ S tiền rừng bạc bể, độc lập-tự do-hạnh phúc để:
 
1-. Dẫn độ ông Giáo sư người Hẹ-Đài Loan, Hồ Tuấn Hùng - soạn giả cuốn tài liệu Hồ Chí Minh Sinh bình khảo / Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh - về Việt Nam xã nghĩa, tuyên án mãn đời bóc lịch khổ sai, vì tội “hoang tưởng” rằng vĩ nhân làng Sen xứ Nghệ vốn đã yểu mệnh vì lao phổi từ năm 1932; còn chồng mẹ già dân tộc VN được lộng kiếng trong lăng Ba Đình từ mùa hè 1975 là xác ông bác / chú người Hẹ Đài Loan của ông ta tên Hồ Tập Chương - trùm gián điệp của Quốc tế cộng sản;
 
2-. Dẫn độ cụ Giáo sư quốc tịch Canada gốc Việt, Lê Hữu Mục về nước mà trảm vì tội lu loa trong cả một cuốn sách rằngHồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký / Nhật ký trong tù;
 
3-. Dẫn độ ông Tiến sĩ quốc tịch Pháp gốc Việt, Nguyễn Văn Trần (và ‘đồng bọn phản động’ như cựu đồng chí đảng viên, cựu đại tá cs Bùi Tín, tác giả nhiều sách và báo rặt “nói xấu đảng”) về nước mà xử bắn về tội bêu rêu, biến đồng chí chủ tịch muôn năm, đại thi văn xào họ Hồ vĩ đại thành Doanh nhân văn hóa thế giới;

Hình phải, báo giấy Thanh Niên: Cho đến 14/11/2013, Việt Nam chỉ có Nguyễn Trãi và Nguyễn Du được UNESCO tôn vinh là Danh nhân văn hóa thề giới.
 
4-. Dẫn độ nhà phê bình văn học, nhà biên khảo quốc tịch Pháp gốc Việt, Thụy Khuê Vũ Thị Tuệ về nước mà trị tội vì đãbịa nguyên cuốn sách đồ sộ Nhân Văn-Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, trong đó - từ chương 16 đến chương 19 -bóc tách, xuyên tạc chi li, rạch ròi:
 
A/ Nguyễn Ái Quốc không phải bút danh riêng của Hồ Chí Minh, mà là bút danh chung của 5 người - Ngũ Long Paris: Tiến sĩ luật trường Pháp, Luật sư tại Paris Phan Văn Trường (1876-1933), Phó bảng Hán văn Phan Chu Trinh (1872-1926), Kỹ sư hóa học đại học Pháp Nguyễn Thế Truyền (1898-1969), Cử nhân luật đại học Sorbonne Nguyễn An Ninh (1900-1943) và Cửu vạn Nguyễn Tất Thành (????-1969) (xem thêm tội của nhà sử học, ĐBQH xã nghĩa Việt Nam họ Dương tên Trung Quốc, ở tiết 1a);
 
B/ Tác giả bản Yêu sách của dân tộc An Nam / Revendications du peuple Annamite và Bản án chế độ thực dân Pháp / Le procès de la colonisation française đích thị là Nguyễn Le Patriot / Nguyễn Ái Quấc (ấc) = Luật sư Phan Văn Trường, chứ nhất định không thể nào là Nguyễn Ái Quốc = Hồ Chí Minh, vì bấy giờ trình độ Pháp văn của bác chưa quá ngưỡng Élémentaire.
 
C/ Bác Hồ vô vàn kính yêu không phải là không vợ không con;
5-. Dẫn độ kỳ được con Ma Xó Đặng Chí Hùng (tên thật là Phạm Mạnh Hùng, đang được tạm giam tại Thái Lan) về Việt Nam xã nghĩa, trực tiếp tùng xẻo đương sự trước toàn thể dân chúng về tội đã moi móc, bật mí cho “cả làng, cả tổng và cả biển người biết đến” (2) loạt bài Những sự thật không thể chối bỏ, Những sự thật cần phải biết… với nội dung “thêu dệt, vu khống” (2) nhằm “bôi đen” đạo đức cách mạng sáng ngời của các đồng chí lãnh tụ anh-minh-cần-kiệm-liêm-chính-chí-kông-vô-tư của đảng và nhà nước cs ta, kể từ thế hệ 1 như bác Minh, bác Đồng, bác Giáp, bác Duẩn, bác Thọ, bác Khu, bác Thanh, bác Dũng, …tuốt tuồn tuột tới thế hệ thứ 2 như bác Linh, bác Mười, bác Phiêu, bác Mạnh…v.v.

*
Trên đây gồm chút đề nghị đồng chí Trung tướng Hoàng Kông Tư thuộc Bộ Công an Việt Nam xã nghĩa ra tay với dúmthế lực ngoại thù về tội bôi Bác và các lãnh tụ của đảng ta. Tiện thể, xin lược và xào lại (3) dưới đây, thay lời khuyến khích tiếp theo đến bác đồng chí Hoàng Kông Tư về vô số tội của dúm nội thù hiện đang nhởn nhơ ngay trong rọt già nước xã nghĩa Việt Nam:
Trên trang Hà Nội Mới ngày 25/12/2013 có bài “Phải xử lý nghiêm những người làm tổn hại uy tín của đảng” do PV Ban Bạn Đọc lược ghi những phản ứng từ ‘đại chúng’ về vụ Luật gia Lê Hiếu Đằng tuyên bố ra khỏi đảng cs Việt Nam từ hôm 04/12/2013; trong đó có phản ứng của bà Hoàng Thị Thắm (phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy) là “đặc sệt” tính đảng nhất. Trích nguyên văn: 
 
[“Cần xử lý nghiêm những người làm tổn hại uy tín của đảng.
 
Việc ông Lê Hiếu Đằng ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành cái cớ để nhiều thế lực thù địch lợi dụng, tung ra những luận điệu xuyên tạc khiến nhiều người dân bất bình. Thực tế cho thấy, nhiều đảng viên thoái hóa, biến chất, thậm chí nhiều đảng viên giữ trọng trách trong nhiều cơ quan cũng đã phải trả giá khi vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ đảng… Điều đó cho thấy sự thanh lọc, sự nghiêm túc trong tổ chức luôn được đảng ta chú trọng. Có thể những động thái đó chưa thể tác động ngay tức thời đến mọi tầng lớp nhân dân, chưa thể có những chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, song, không vì những cá nhân như ông Lê Hiếu Đằng mà chúng ta lại mất niềm tin, lại phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng. Dư luận đòi hỏi những cá nhân bôi nhọ, làm mất uy tín, danh dự của đảng như Lê Hiếu Đằng cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.”] (hết trích)
 
Thưa thím đồng chí Hoàng Thị Thắm,
Thưa bác đồng chí Hoàng Kông Tư.
 
Cứ giả dụ cách thức ông Đằng từ bỏ đảng cs tuy không vi phạm nội quy, điều lệ nhưng đã chạm vào nọc kiêu ngạo cs khú đế của ai đó thì đó là chuyện nội bộ của đảng cs, chẳng mắc mớ gì tới pháp luật của đất nước. Tôi chắc chắn do bức xúc nhất thời vì quá yêu đảng yêu quỷ của mình mà thím đồng chí Thắm đã đồng nhất nội quy của đảng cs với quốc luật, và sốc nổi đề nghị ngành Tư pháp lôi ông Lê Hiếu Đằng ra “xử lý nghiêm minh trước pháp luật”; bác đồng chí Hoàng Kông Tư lấc cấc đòi lôi ông BBC Nguyễn Hùng hồi hương về tội có “tư tưởng phá hoại đặc sệt” hòng “xử lý đương sự theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”!
 
Nhắc lại: Hôm 28/09/2013, Tổng Bí thư đcs Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố “Hiến pháp – văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất, sau Cương lĩnh của đảng”. Thực tế xã hội bấy lâu nay ở nước ta xác minh lời ông Tổng bí Trọng là rất chân thật. Lời nói đầu bản Hiến pháp 2013 ghi rành rành “Hiến pháp là để thể chế hoá cương lĩnh của đảng”. Thím đồng chí Thắm và bác đồng chí Tư biết thừa Hiến Pháp là Mẹ đẻ của pháp luật, nhưng lại bị / được đứng sau Cương lĩnh của đảng (cs). Vậy, thưa thím Thị Thắm, thưa bác Kông Tư, trước khi lôi ông Đằng ra “xử lý nghiêm minh trước Cương lĩnh của đảng” vì tội đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng (cs)”; trước khi lôi được ông BBC Nguyễn Hùng về cố quốc hầu “xử lý đương sự theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì đảng cs (của bà) phải nghiêm trị ngay tức khắc:
 
1a/ Nhà sử học kiêm đồng chí ĐBQH Dương Trung Quốc đã khẳng định Nguyễn Ái Quốc là bút danh chung của Ngũ Long Paris trong bài Nhân sự phá sản của đề án 112:



1b/ Đương kim Tổng Bí thư đcs Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, người đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” trầm trọng bậc nhất từ trước tới nay, khi tuyên bố ”xây dựng Chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ (21) này không biết đã có Chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.”;
 
1c/ Đương kim Chủ tịch nước Trương Tấn Sang - người đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” trầm trọng khi cho rằng đảng cs đã ”sản sinh ra một bầy sâu, làm chết cái đất nước này”;
 
1d/ Đương kim Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan - người đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” trầm trọng khi thét toáng lên giữa đất trời: “Người ta ăn hết của dân, không chừa một thứ gì”. 
 
Người ta là ai, thưa bà Hoàng Thị Thắm?
 
- Xin cứ hỏi ngài TBT Mênh mông…tiền dân, ngay dưới đây.
 
1e/ Cựu Tổng Bí thư đcs Lê Khả Phiêu - người đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” trầm trọng khi xác định Việt Nam dưới sự độc quyền lãnh đạo của đcs: ”Tham nhũng đã trở thành ung thư. (Người ta tức) đảng viên, cán bộ đảng trong Nhà nước tham nhũng chứ dân đen nào tham nhũng?”;
 
1f/ Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” trầm trọng khi kết luận như đinh đóng cột: “Đảng là ông vua tập thể, đã xây nên một cơ chế đã mắc lỗi hệ thống!”
 
1g/ Hôm 07/12/2013 tại Hà Nội, ông Tổng bí Trọng lại một lần nữa “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng” hung hơn khi ông ấy vô tình hay cố ý quốc sách hoá ung thư tham nhũng ở nước ta bằng câu “đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ. Bước chân sang nước Phật đã phải hối lộ… Cho nên chúng ta phải xem xét, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt…”.
 
1h/ Hôm 11/04/2014, đương kim Đại diện tối cao của Lập pháp, tức đồng chí Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (nghe nói là cháu rọt rất tra của đại đồng chí Nguyễn Sinh Coong) đã hồn nhiên tuyên bố về thảm bại trong đầu tư công “Chủ tịch Quốc hội cũng không phải người đứng đầu Quốc hội. Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”. Lưu ý: vế thứ 2 trong danh ngôn này, xưa ở đây, nay đã bị/ được đục bỏ, nhưng còn ở đây, ở đây…và nơi nơi trong “cái chòi trông cá” của chú Gu-gồ.
*
Đến nay, thím đồng chí Hoàng Thị Thắm vẫn chưa hồi âm cho Hải Ý em về vụ thím năng nổ đòi lôi ông cựu và cố đồng chí Lê Hiếu Đằng ra “xử lý nghiêm minh trước Cương lĩnh của đảng” vì tội đã “bôi nhọ, làm tổn hại uy tín của đảng”. Phần bác đồng chí Trung tướng Công an Hoàng Kông Tư đối với vụ BBC Nguyễn Hùng và cái video trực tuyến của đồng chí Vinalines Dương Chí Dũng thì chưa biết đến 30/04/2014 này sự thể sẽ ngã ngũ ra sao, thâm ý của bác đồng chí thật thụ là cái chi chi, nhưng dù thành công hay chỉ là trò xung phong chữa bệnh để xoán ngôi, bác đồng chí Kông Tư, trong mắt Hải Ý em, cũng đã xứng đáng được lưu danh sử xanh vì đã có đại công phát minh ra cách đánh vần / nghe kiểu mới trong tiếng Việt: Tờ-iếp Tiếp nặng Tiệc!
 


 


Chuyện Hoa Xương Rồng

Unknown | 3:57:00 AM | 0 comments
Nguyên Thạch (QLB)

(30-4, ghi lại những tang thương của đất nước)


Ngày ấy...tang thương buổi biệt ly
Một người ở lại, một người đi
Lưỡi liềm trăng muộn soi ghềnh đá
Hai mảnh hồn đau...buổi chia ly

Từ cuộc tang thương, dạo bảy lăm
Con nước lạc nguồn, nước xa xăm
Chia đôi tình mộng...duyên không hẹn
Dòng trôi nghiệt ngả...buồn tháng năm.

Em ở lại quê, chốn ngục tù
Nơi vùng kinh tế, vùng hoang vu
Rừng thiêng nước độc đêm hoang lạnh
Rờn rợn vọng về tiếng ma tru.

Buồn lắm...nơi đây những chiều về
Nhung nhớ người xưa dạ tái tê
Ai đi biền biệt tình không hẹn
Xa cả người yêu, biệt đường quê.

Cha nơi tù ngục tận rừng xa
Lam lũ hình hài, em thay cha
Chăm mẹ, nuôi em lo đồng áng
Chỉ ba năm thôi, em đã già!.

Một ngày Đông đến mây giăng mắc
Còn chút tàn hơi, em nguyện cầu
Gởi đến người xưa xa xăm ấy
Hẹn ngày hạnh ngộ ở kiếp sau.

Em nguyện được chôn bên ghềnh đá
Nơi dải mịn màn cát thùy dương
Để đêm còn được nghe sóng vỗ
Hòa theo âm điệu tiếng người thương.


    

 
Hơn nửa đời xuân tôi trở lại
Ôm vòng cát trắng, dậy đau thương...
Bên nấm mồ con, xương rồng trổ
Môi hôn...tươm máu giọt bên đường.



Nguyên Thạch
NHỮNG BÀI VIẾT MỚI NHẤT CỦA QLB & CÁC VỤ ÁN
 


TS. NGUYỄN THỊ HẬU TRẢ LỜI RFA VỀ KHẢO CỔ HỌC VÀ ĐỀN HÙNG

Unknown | 11:24:00 AM | 0 comments

RFA 12-4-14
Khảo cổ học về Đền Hùng tại Phú Thọ
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Trong những ngày diễn ra Giỗ tổ Hùng Vương tại Đền Hùng nơi được xem như mảnh đất của các Vua Hùng khởi nghiệp, Mặc Lâm giới thiệu với quý thính giả cuộc trao đổi với TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu để biết thêm những kết quả mà giới khảo cổ đã tìm thấy tại đây chứng minh thế nào về sự hiện diện của thời đại các vua Hùng chung quanh địa danh có tính lịch sử này.

TS Nguyễn Thị Hậu đã có những sách về khảo cổ đã xuất bản như: Khảo cổ học tiền sử và sơ sử TP. Hồ Chí Minh, viết chung, 2008. Khảo cổ học bình dân Nam bộ - Việt Nam, từ thực nghiệm đến lý thuyết (2010) Văn hóa khảo cổ huyện Cần Giờ Tp Hồ Chí Minh (2012) TS Nguyễn Thị Hậu hiện là Phó Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử VN, Tổng Thư ký hội Sử học TP HCM, bà đang giảng dạy về Khảo cổ học, văn hóa học, bảo tồn bảo tàng… tại trường Đại học KHXH và Nhân văn TP HCM, Đại học Văn hóa TP HCM và nhiều trường đại học, cao đẳng khác.

Mặc Lâm: Theo nghiên cứu của khảo cổ học thì nền văn hóa Đông Sơn với các trống đồng nổi tiếng có liên quan như thế nào đến nhà nước Văn Lang sơ khai của “thời đại Hùng Vương”?

TS Nguyễn Thị Hậu: Nền văn hoá Đông Sơn là một văn hoá khảo cổ thuộc thời đại kim khí, phân bố tập trung ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ. Đến nay đã phát hiện và khai quật hàng ngàn di tích và tìm thấy hàng chục ngàn di vật của nền văn hoá này, trong đó nổi bật là các trống đồng Đông Sơn.  Về niên đại khảo cổ học thì chúng tôi nhận thấy các di tích này có niên đại tương đương về thời gian và không gian của truyền thuyết trong dân gian về thời đại Hùng Vương đó là vùng Phú Thọ Việt Trì và trung du củ đồng bằng Bắc bộ. Tất nhiên truyền thuyết không phải là lịch sử nhưng có chứa đựng một phần nào đấy của quá khứ nên nó được lưu truyền qua nhiều đời, như là một cách ghi nhớ cội nguồn của bất cứ cộng đồng người nào. Truyền thuyết về thời đại Hùng Vương cũng vậy.

Tư liệu khảo cổ học của chúng tôi cũng phải nghiên cứu cùng với tư liệu về văn hoá dân gian, dân tộc học và nhiều ngành khác, tài liệu khảo cổ học về văn hoá Đông sơn cho phép chúng ta tìm ra cốt lõi hay một chút sự thật của truyền thuyết về thời đại Hùng Vương: đã có nhiều bộ lạc người sinh sống ở vùng trung du – đồng bằng, biết dùng kim loại đồng, sắt làm vũ khí và công cụ sản xuất, biết trồng trọt, chăn nuôi, định cư thành làng tương đối lớn. Khi cần thiết thì liên kết với nhau để làm thuỷ lợi, trồng trọt khai phá đất đi hay chống ngoại xâm…  Đặc biệt những hình hoa văn trên trống đồng Đông Sơn còn phản ánh một số sinh hoạt đời thường hoặc lễ hội của cư dân nông nghiệp và ở vùng nhiệt đới có khá nhiều sông nước.

Có thể nhận biết từ đặc điểm của Văn hoá Đông Sơn những yếu tố dẫn đến sự hình thành một “nhà nước sơ khai” mà trong truyển thuyết của chúng ta đó là nước Văn Lang của Các Vua Hùng thì có ba yếu tố cơ bản. Yếu tố thứ nhất là yều tố ngoại sinh: mâu thuẫn và đấu tranh với thiên nhiên nhắm thích ứng với thiên nhiên, quan trọng nhất là hình thành hệ thồng thuỷ lợi cho canh tác nông nghiệp. Nó cũng là nguy cơ và thực tế đã xảy ra các xung đột giữa bộ lạc với nhau, theo truyển thuyết của Văn lang thì chúng ta có tới 13 bộ lạc.

Yếu tố thứ hai là yếu tố nội sinh sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh với kỹ thuật dùng cày được xem là tiên tiến, nhiều nghề thủ công ra đời, sản phẩm trở thành “hàng hoá” như đồ gốm, đồ đồng, đồ trang sức bằng đá…

Yếu tố ngoại sinh kết hợp với nội sinh ta cũng thấy thời kỳ này có quá trình giao lưu rộng rãi, trao đổi vật phẩm hàng hoá, tiếp thu kỹ thuật mới…Tất cả những điều đó làm cho xã hội có nền tảng kinh tế phát triển, nhu cầu cố kết để có sức mạnh quân sự, sự phân hoá xã hội ở một mức độ nhất định, nhu cầu mở rộng không gian sinh sống… là những yếu tố “cần” để một nhà nước sơ khai ra đời, như là hình thức Liên minh các bộ lạc mà người thủ lĩnh của Liên minh ấy được coi là “Vua”.

Mặc Lâm: Có hai khuynh hướng hiện nay, một là dùng các di vật khảo cổ để cố chính thức hóa hay hiện thực hóa các truyền thuyết về Thời đại Hùng Vương; hai là khuynh hướng nghiên cứu từ các cổ vật ấy xác định truyền thuyết đúng tới đâu. Bà chọn khuynh hướng nào?

TS Nguyễn Thị Hậu: Tôi không chọn khuynh hướng nào cả, đơn giản vì mục đích của Khảo cổ học không phải nhằm minh chứng cho cái gì đã có sẵn! Khảo cổ học nghiên cứu di tích di vật, căn cứ vào tính chất đặc điểm niên đại … chứng cứ như thế nào thì mình phải nói như thế. Cả hai khuynh hướng trên đều coi Truyền thuyết như là “sự thật lịch sử” nên làm cách nào cũng không có sự khách quan cần thiết của khoa học. Chúng ta đã biết truyển thuyết là một phần của quá khứ nhưng vì sao nó truyền đến bây giờ thì nó phải có một cái gì đó. Tôi nghĩ rằng kết quả nghiên cứu của khảo cổ học đa số đều tho khuynh hướng này tức là góp phần giải thích vì sao có truyền thuyết đó, truyền thuyết đó là như thế nào…cái thực chất của nó chứ không phải sự thật như thế nào.

Mặc Lâm: Quay lại với những ngày giỗ tổ mà chúng ta tổ chức hàng năm ở đền Hùng thì theo bà hệ thống di tích khảo cổ học chung quanh đền Hùng nói lên điều gì về đời sống cư dân thời đại các vua Hùng?

TS Nguyễn Thị Hậu: Di tích quan trọng nhất ở khu vực này là di tich Làng cả, Việt trì, và hệ thống hàng trăm di tích khảo cổ học dày đặc, tầng văn hoá tức là dấu tích con người để lại, dày nhiều mét. Các dấu tích cư trú định cư thành xóm làng đông đúc và lâu đời. Nhiều dấu tích của nghề nông trồng lúa nước, di tích Gò Đồng Đậu tìm thấy một hố đầy thóc, những di tích khác đều có thóc trong địa tầng, vỏ trấu trong mảnh gốm…, kỹ thuật nông nghiệp dùng cày đã khá phổ biến, giai đoạn trước chủ yếu dung cuốc với kỹ thuật canh tác nương, rẫy. Đây là kỹ thuật nông nghiệp tiến bộ của thời bấy giờ với sức kéo của động vật là con trâu. Xương trâu bò tìm thấy khá nhiều. Nông cụ có nhiều loại như cuốc, xẻng, cày… có những nông cụ dùng trong việc thuỷ lợi như đào kênh mương như mai, thuổng…

Từ lúc này, định cư và nông nghiệp trồng lúa nước bắt đầu trở thành truyền thống lâu đời của người Việt cổ.

Người xưa phát triển nghề làm gốm tạo ra các đồ dung sinh hoạt như nồi, vò nhiều kích thước. Có những di tích mảnh gốm dày đặc, độ nung gốm khá cao, trang trí hoa văn rất đẹp nhất là trong đồ gốm của văn hoá Phùng Nguyên vùng Phú Thọ. Hoa văn gốm Phùng Nguyên sau này được tái hiện trong nhiều đồ đồng Đông Sơn.

Đặc biệt kỹ thuật luyện kim đã đạt đến trình độ cao, nhất là các trống đồng Đông Sơn có hoa văn chạm khắc tinh xảo, sinh động, cho ta nhận biết nhiều sinh hoạt đời thường như giã gạo, săn thú, múa hay những nghi lễ, lễ hội… cảnh chèo thuyền, đánh trống đồng, trang phục của người thời Hùng Vương khá phong phú.

Cuối thời kỳ văn hoá Đông Sơn đã xuất hiện kỹ thuật rèn sắt, đã tìm thấy những lưỡi cày sắt ở vùng Cổ Loa, Hà Nội. Có lẽ đã có những xung đột giữa các bộ lạc, các cộng đồng nên vũ khí rất nhiều loại hình như giáo, kiếm, rìu, dao găm… số lượng lên đến hàng chục ngàn di vật…Nhiều loại hình mộ táng khác nhau cho thấy quan niệm về cái chết, tín ngưỡng về thế giới bên kia … khá đa dạng.

Dựa trên số lượng di tích, mật độ phân bố, quy mô di tích, loại hình di vật, địa bàn phân bố từ miền núi đến đồng bằng, từ trung du tới ven biển… các nhà nghiên cứu cho rằng đây là thời kỳ phát triển cao của nền văn minh kim loại, cơ sở quan trọng đề hình thành nhưng hình thức tổ chức xã hội cao hơn công xã nguyên thuỷ, đó là bộ lạc và liên minh bộ lạc.

Mặc Lâm: Giỗ tổ Hùng Vương dưới cái nhìn khảo cổ học cần được thực hiện thế nào cho đúng với tinh thần khoa học?

TS Nguyễn Thị Hậu: Giỗ tổ Hùng Vương là một tín ngưỡng phổ biến nhiều nhất ở vùng Phú Thọ - tương truyền là Đất tổ Hùng Vương. Sau này, từ đầu thế kỷ XX phổ biến rộng hơn ở vùng Bắc bộ. Đây là một loại hình tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, lễ hội diễn ra vảo tháng 3 âm lịch cũng là tháng kết thúc mùa khô bước vào mùa mưa – thời điểm của một chu kỳ nông nghiệp. Có thể coi lễ hội này nằm trong chuỗi lễ hội mùa xuân rất phổ biến ở miền Bắc. Vì những giá trị đó mà Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá Phi vật thể của thế giới.

Tôi cho rằng cần giữ gìn giá trị nguyên bản của di sản văn hoá này, bởi vì nếu chúng ta can thiệp, tổ chức không khéo, đưa quá nhiều yếu tố hiện đại vào lễ hội này thì lễ hội sẽ bị biến dạng nhanh chóng. Quan trọng là nó không còn là của DÂN, và do đó, nguy cơ để lại cho đời sau một di sản ít nhiều bị thay đổi giá trị.

Mặc Lâm: Xin cám ơn bà. 

TỪ ĐỒNG CHÍ NGÔ THÌ NHẬM ĐẾN CÁC VUA HÙNG ..BIẾN THÀNH LÍNH CANH

Unknown | 7:19:00 PM | 0 comments
18 VỊ VUA HÙNG ĐÃ BIẾN THÀNH LÍNH CANH NGAY CHÍNH TRONG NGÔI ĐỀN THỜ CHÍNH MÌNH

Từ đồng chí Ngô Thời Nhậm 
đến các Vua Hùng là người ngoài hành tinh
Nguyễn Quang Lập 

Mình vào FB Hoa Thanh Quế, chắc là một ông quê Thanh Hóa, có treo cái biển ghi công đức của cụ Ngô Thì nhậm, rành rành ghi:  "Tiểu sử đồng chí Ngô Thì Nhậm". Cười muốn ngất. Rất tiếc chủ blog không cho biết ảnh chụp ở đâu. Nhìn tấm ảnh thì biết khả năng photoshop là rất thấp. Nhưng nếu biết tấm biển này được treo ở đâu thì mới thuyết phục người ta được. Các tay máy nghiệp dư ít chú ý đến nguồn gốc của ảnh, đó là một cái dở.

Đến chuyện vua Hùng may thay lại gặp một tay máy cứng cựa, đó là nhà báo Mai Thanh Hải. Anh cho biết tất cả các ảnh chụp dưới đây đều chụp tại công viên Đồng xanh xã An Phú, cách Pleiku khoảng 10 km, trên đường xuống Quy Nhơn - Bình Định. (Xem tại đây).

Công viên này của Cty Cổ phần Gia Lai CTC và được giới thiệu trên website rất hoành tráng, đại loại:

Đặc biệt, việc giới thiệu rất nhấn mạnh đến: "Khu Văn hóa tâm linh nơi có Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương được xây theo kiến trúc truyền thống với mái nhà Rông cách điệu cao 18m. Trong điện thờ, tượng Vua Hùng cao 6m, nặng gần 3 tấn gỗ mít sơn son thiếp vàng, kiến trúc văn hóa Việt bố trí sắp đặt hài hòa được thực hiện bởi các nghệ nhân từ thủ đô Hà Nội. Trước điện thờ là tượng 18 Vua Hùng uy nghi. Cạnh đó, chùa Một Cột -“Tây Thiên Nhất Trụ” được xây dựng theo đúng nguyên mẫu của Chùa Một Cột Hà Nội gợi nhớ về kiến trúc tâm linh thiêng liêng bậc nhất của Thủ đô. Xung quanh quần thể văn hóa Việt còn có lầu Thần tài, tượng Phật Quan Âm cứu khổ, cứu nạn, cổng Tam Quan bằng đá Ninh Bình; các loại cây quý được bố trí hài hòa, tạo ấn tượng và sự trân trọng đối với du khách khi đến nơi này"...

Tại đây thiên hạ mới ngả người ra, các vua Hùng sống lâu kinh khủng. Người ít tuổi nhất là Hùng Duệ Vương 211 tuổi, người nhiều tuổi nhất là Hùng Chiêu Vương 692 tuổi, thất kinh!

Sống lâu như thế chỉ có người ngoài hành tình, người ở thế giới này tuyệt nhiên không có.

Người ta có chú thích rành rành: "Những số liệu về tên, húy, tuổi, số vợ, con, cháu của 18 Vua Hùng ghi chú trước bức tượng được trích từ nguồn tài liệu Giới thiệu Khu di tích lịch sử Đền Hùng của tác giả Vũ Kim Biên nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn do Sở Văn hóa thông tin Phú Thọ xuất bản 2006"

Không rõ ông Vũ Kim Biên và sở văn hóa Phú Thọ căn cứ vào nguồn nào mà dám đưa ra những số liệu kinh khủng nói trên?

Thôi để mọi người bình luận. buồn cười quá hết muốn nói.


Dưới đây là các đồng chí Vua Hùng có tuổi thọ của người ngoài hành tinh




















      

Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương tìm hiểu về nguồn cội

Unknown | 6:34:00 PM | 0 comments

Những ngày này hàng vạn người người từ các vùng miền trong nước kéo nhau lên Đền Hùng (Phú Thọ) nơi được coi là "đất tổ" của Việt Nam. Đó là điều bình thường nếu cho rằng dân tộc nào cũng có đất tổ để mà thờ cúng. Nhưng sẽ là điều không bình thường khi người dân không thực sự hiểu biết và không tin vào ông tổ của mình. Vẫn biết đây  là một chủ đề vô cùng khó và phức tạp, thậm chí là "nhậy cảm" để bàn luận. Tuy nhiên, không thể làm ngơ trước sự thật là trong khi đại đa số người dân mặc nhiên rằng Đền Hùng là đất tổ thì ngày càng có nhiều người, nhất là giới trẻ, hoài nghi về lịch sử nguồn cội, thậm chí không ngần ngại đem ra đùa tếu về truyền thuyết các vua Hùng sao có 18 đời mà sống đến gần 5000 năm(?). Lại có người cho rằng "người Việt đẻ ra người Trung Quốc" trong khi người khác cho rằng "người Việt là từ Trung Quốc mà ra", v.v... Rõ ràng còn quá nhiều "góc khuất" trong lịch sử dân tộc chưa được làm sáng tỏ? Bài viết nầy  là một ví dụ.

 Để góp phần lý giải những khúc mắc nêu trên, Bách Việt xin mạn phép đăng lại một bài viết của GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông dưới đây.    

                           Văn minh Việt cổ “bị đánh cắp” như thế nào?

Kienthuc.net.vn:  GS.TSKH Hoàng Tuấn, Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông đã tìm ra những chứng cứ chứng minh về những phát minh lý thú của người Việt trong thời kỳ dựng nước bị kẻ xâm lược cố tình xóa bỏ và đánh tráo. Đó là nền văn hóa nhân bản - là nền văn minh "Lịch toán - Nông nghiệp"...
Nước Việt có trước thời Hùng Vương
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu sau này được Ngô Sĩ Liên đời Lê biên soạn lại cho đến cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thời Pháp thuộc và các bộ Lịch Sử Việt Nam của nhiều tác giả Viện Sử Học thời hiện đại thì: Nước ta được thành lập từ thời Hồng Bàng, với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất, tức năm 2879 trước Công nguyên, tính đến năm 2013 này thì đã 4.892 năm.
Sau Kinh Dương Vương là 18 đời các Vua Hùng nối tiếp, với tên nước là Văn Lang. Nước Văn Lang thời đó rộng lớn, phía Bắc là miền đồng bằng phì nhiêu thuộc lưu vực sông Dương Tử giáp Hồ Động Đình, phía Nam giáp Lâm ấp (Chiêm Thành cũ), Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông. Ngay tên Kinh Dương Vương cũng đã mang ý nghĩa rõ ràng về "vua của hai vùng đất rộng lớn là châu Kinh và châu Dương cổ" - nay đã thuộc Trung Quốc.
Nhiều người còn nghi ngờ về thời kỳ lập nước xa xôi trên với lý do duy nhất là 18 đời vua Hùng không thể kéo dài đến hàng ngàn năm (mỗi đời vua trong các Triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn sau này cũng chỉ từ 15 - 30 năm). Thời các vua Hùng nếu mỗi đời kéo dài đến 50 năm thì 18 đời Hùng Vương cũng chỉ là 900 năm. Như vậy, thời Hùng Vương kéo dài đến hàng ngàn năm là hoang đường!
Tuy nhiên, nếu xét thời gian chỉ ngắn ngủi như trên thì không phù hợp với nhiều hiện tượng lịch sử bành trướng xâm lược của Đế quốc Hán Mông xưa. Vì vậy, 18 đời vua Hùng chỉ là 18 chi họ Hùng Vương, mỗi chi gồm nhiều vị nối tiếp nhau cai trị đất nước, đều gọi là đời Hùng Vương thứ nhất, hoặc thứ hai... Nếu chi họ đó không có con trai hay người tài nối vị thì dòng họ gần kề sẽ lên nối ngôi và được gọi là đời Hùng Vương thứ ba hay thứ tư...
Điều này phù hợp với thời đại Thái cổ của Tổ tiên xưa: Người đứng đầu các bộ lạc thời "săn bắn và thuần hóa súc vật" đều được gọi là Phục Hy; người đứng đầu các bộ lạc thời "nông nghiệp đầu tiên" đều được gọi là Thần Nông. Vì vậy, thời Phục Hy và Thần Nông, mỗi thời kỳ đều có nhiều vị đứng đầu cùng tên nối tiếp nhau.
Tiếp đến thời Hùng Vương cũng thế: Thời Hùng Vương thứ nhất hay thứ hai, thứ ba... cho đến thứ 18, mỗi đời đều gồm nhiều vị vua Hùng. Thời gian như thế mới phù hợp với nhiều hiện tượng lịch sử liên quan đến dân tộc Việt cổ mà các sử gia Trung Quốc sau này cũng đã ghi.
Tranh minh họa. 
Nước Văn Lang được thành lập dưới thời Kinh Dương Vương chắc chắn là vào thời kỳ nền nông nghiệp đã phát triển khá mạnh vì thời đó đã có nền lịch toán vững chắc để phục vụ nghề nông.
Tuy nhiên, đất nước rộng lớn của cư dân Bách Việt xưa - từ khi lập nước - đã liên tục suốt hàng ngàn năm bị dân du mục Hán - Mông thiện chiến, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, ở phía Bắc sông Hoàng Hà xâm chiếm và bị thu hẹp cho đến khi chỉ còn lại phần đất phía Nam bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và đồng bằng Bắc bộ cho đến Đèo Ngang xưa và cả vùng đất còn lại này lại bị dân Hán - Mông đô hộ thêm một ngàn năm nữa.
Trong suốt nhiều ngàn năm liên tục bị đánh phá và bị đô hộ, nền văn hóa nông nghiệp xưa cũng bị xóa sạch vết tích. Tuy nhiên, những tinh hoa của nền văn hóa nông nghiệp đó thì không thể xóa hết và được kẻ xâm lược trị vì tiếp thu và biến thành nền văn hóa chính quốc. Nền văn hóa Khoa Đẩu xưa - mà lịch sử cổ còn ghi - cùng nền văn hóa kế thừa Khoa Đẩu là nền văn hóa Việt Nho cũng bị xóa bỏ. Phần tinh hoa không xóa nổi thì biến thành nền văn hóa Hán Nho của chính quốc.
Vua Hùng và các quân Lang. 
Người Việt nghiên cứu Vũ trụ từ khi ra đời
Những cứ liệu còn ghi trong lịch sử Trung Quốc chứng tỏ lịch sử lâu đời của Việt Nam và chính người Việt là người có nhiều phát minh vĩ đại: Nghiên cứu vũ trụ, lịch số... trong đó, lịch rùa chứng minh Việt Nam ra đời trước Trung Quốc. Cổ sử Trung Quốc viết: "Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN - tức trước khi nước Trung Hoa ra đời rất lâu; sau khi nước Văn Lang được thành lập 522 năm), có sứ giả Việt Thường (1) đến Kinh đô tại Bình Dương (phía Bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng hai con Thần Quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau...".
Vua Nghiêu sai người chép lại và lưu vào "tàng thư" gọi là "Lịch Rùa" (2). Sách "Thông Chí" của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ về việc Thị tộc Việt Thường tặng lịch Rùa cho vua Nghiêu. Nếu tính từ năm thành lập nước Văn Lang đến nay thì lịch rùa chắc chắn cũng đã có từ gần 5.000 năm trước. Tại sao vào thời xa xưa đó mà người Việt Thường lại có thể giải thích được "việc trời đất từ khi mới mở đến sau này"? Rõ ràng họ đã có một nền văn minh "lịch toán" rất phát triển. Vì sao? Vì đó là yêu cầu của nền nông nghiệp đã được hình thành từ lâu đời (nghề canh tác lúa nước). Để dự báo thời tiết cho nông nghiệp bắt buộc họ phải phát triển lịch toán.
Và cơ sở của "Lịch Toán" này chắc chắn đã được khắc trên mai rùa đem sang tặng vua Nghiêu để cầu bang giao. Vì thế mà cổ sử Trung Quốc mới ghi lại là "... trên lưng rùa khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc trời đất từ khi mới mở trở về sau này". Như vậy là người Việt Thường đã nghiên cứu vũ trụ rất sớm, đã đi sâu tìm hiểu vũ trụ từ khi mới sinh thành và đã đem những hiểu biết đó để làm lịch phục vụ nông nghiệp. 
(1) Việt Thường: Ngay tên Việt Thường mà thời vua Nghiêu gọi tên nước Văn Lang xưa cũng thể hiện "dân tộc trồng lúa nước". Theo cụ Nguyễn văn Tố (trong Sử ta so với sử Tầu) thì Việt Thường là tên để chỉ cái "xiêm" của người Việt cổ trồng lúa nước, vì chưa có bang giao, người Tầu xưa (dân Hán - Mông) chưa hiểu rõ nên gọi luôn tên dân mặc "xiêm" là tên nước. Tên Việt Thường xuất hiện từ đó. Về sau khi đã có chữ viết, các nhà chép sử buổi sơ khai cứ theo cách gọi cũ ghi tên Việt Thường để chỉ vùng đất phát triển nhất của dân Bách Việt.


(2) Lịch rùa: Lịch đã được khắc trên mai rùa mang sang cống vua Nghiêu chỉ có thể là hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư - cơ sở của Lịch toán xưa - mà sau này người Trung Quốc đã đổi tên gọi là Hà Đồ và Lạc Thư cho hợp với sự giải thích hoang đường và thần bí của họ. Hai bảng Âu Đồ và Lạc Thư chính là cơ sở của Lịch Toán Can Chi đã được hình thành từ thời cổ đại và đã được sử dụng trong các nước Á Đông cho đến tận ngày nay.
GS.TSKH Hoàng Tuấn (Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông)
http://kienthuc.net.vn/di-san/van-minh-viet-co-bi-danh-cap-nhu-the-nao-264317.html