Showing posts with label Nguồn lực. Show all posts
Showing posts with label Nguồn lực. Show all posts

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa(*)

Unknown | 5:58:00 PM | 0 comments
(*)Đó là nhận xét của Thomas J. Vallely - người đã từng có mặt tại Việt Nam trong nhiều thời kỳ khác nhau từ thời chiến đến thời bình với những cương vị khác nhau từ người lính đến nghị sĩ - được thể hiện qua cuộc phỏng vấn mới đây do phóng viên Thanh Tuấn của báo Tuổi trẻ (Nguồn: facebook  ngày 4/4l 2014 ). Bách Việt  xin mạn phép đăng lại để làm tài liệu tham khảo.
Hình ảnh chỉ có tính minh họa 

Thomas J. Vallely:VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hóa

Năm 1985, hạ nghị sĩ bang Massachusetts (Mỹ) Thomas Vallely lần đầu trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến với một mục đích riêng. Là cựu lính thuỷ đánh bộ trong chiến tranh, ông muốn làm bộ phim quảng cáo ngắn cho cuộc chạy đua vào Quốc hội Mỹ vào năm sau.
“Khi đó tôi ghét VN, tôi không phải tuýp người yêu VN ngay từ đầu,” Vallely thừa nhận về lần trở lại đầu tiên.

Bộ phim làm thành công nhưng cuộc chạy đua của Vallely thì thất bại. Nhưng lần trở về của ông không phải là vô vọng. Chuyến đi đó gieo lại ông mong muốn được làm gì đó với VN. Một cử chỉ trả ơn mà ông định là tặng học bổng đưa một sinh viên Việt tới trường chính sách Kennedy của ĐH Harvard trở thành khởi đầu của chương trình Việt Nam tại ĐH Harvard. Có mối quan hệ thân thiết với các thượng nghị sĩ từng là cựu binh như John Kerry, John McCain,...ông là người đưa chương trình học bổng Fulbright tới VN từ năm 1992 – một loạt lãnh đạo của VN hiện tại như Nguyễn Thiện Nhân, Phạm Bình Minh, Cao Đức
Phát,...đều là cựu sinh viên của chương trình này. Sau học bổng Fulbright là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (FETP) mà sau này được nâng cấp thành trường Fulbright và ông cũng là người sáng lập của quỹ học bổng VEF mà mỗi năm quốc hội Mỹ giành cho 5 triệu USD. Song song với các chương trình giáo dục này là các báo cáo về phát triển và tình hình kinh tế VN cho chính phủ mà ông tham gia cùng với các chuyên gia của ĐH Harvard. Chuyến đi ngắn của năm 1985 trở thành khởi đầu của cuộc gắn bó dài tới hơn 27 năm mà khi nhìn lại ông thừa nhận là “không bao giờ nghĩ mình lại gắn bó lâu tới vậy.”

27 năm qua đi, tối 24-3, giải thưởng Phan Châu Trinh lần thứ 8 về văn hoá và giáo dục đã chính thức ghi nhận những đóng góp của Thomas Vallely cho nền giáo dục VN. Giải thưởng ghi nhận ông vì những
đóng góp quan trọng cho giáo dục đại học ở VN. Ở tuổi 87, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, chủ tịch quỹ Phan Châu Trinh, bước lên sân khấu để trao giải cho ông. Nhà văn Nguyên Ngọc trong diễn văn kết luận ca ngợi ông “sao hiểu VN đến thế, cặn kẽ và sâu sắc đến thế, thấu đáo và cơ bản đến thế, để kiên định suốt gần ba mươi năm” đem đến cho VN hai điều cơ bản nhất: một cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường đích thực, và một công cuộc cải cách giáo dục thực sự triệt để và căn bản.

Trong lời đáp từ, Vallely nhắc lại về tư tưởng của Phan Châu Trinh về giáo dục là nền tảng của phát triển và nhắc lại “cải cách giáo dục là thách thức lớn nhất ở VN hiện nay” và nếu không cải cách nhanh chóng giáo dục thì VN có nguy cơ không đạt được “tiềm năng to lớn của mình.” Trong bài đáp từ, ông cũng nhắc về “chủ nghĩa ngoại lệ” (tự coi mình đặc biệt) như một thách thức đối với VN. Cuộc trò chuyện của TTCT với ông bắt đầu từ “chủ nghĩa ngoại lệ.”

Thomas Vallely, ông đề cập tới chủ nghĩa ngoại lệ trong bài đáp từ của mình tại lễ trao giải Phan Châu Trinh như là một thách thức lớn đối với giáo dục VN. Xin ông nói rõ hơn về điểm này.

Trong diễn văn tôi đề cập cả chủ nghĩa ngoại lệ của Mỹ (tự coi mình là đặc biệt) và chủ nghĩa ngoại lệ VN và tôi nghĩ từng nước đều có cái chủ nghĩa ngoại lệ của riêng mình. Khi một nước cân nhắc cách thức đổi mới các trường đại học, họ nên nhớ đến những nguyên tắc nền tảng – ví dụ như tự do học thuật, cơ chế tự chủ, cơ chế trách nhiệm đối với xã hội,... – mà được tất cả các trường đại học hàng đầu thế giới cùng chia sẻ. Các nguyên tắc, giá trị này, không giới hạn ở phạm vi khu vực. Điều đó không có nghĩa là các trường đại học không cần để ý tới các điều kiện văn hoá xã hội – đương nhiên là họ cần. Tuy nhiên, các trường đại học tốt nhất thế giới, dù đó là ở Boston, Berlin hay Bắc Kinh đều có những giá trị nền tảng nhất định. Một cách để tránh cái bẫy tư duy ngoại lệ này là phải so sánh mình với các nước khác bằng cách tham gia các chương trình thi cử quốc tế hay phấn đấu để được các tổ chức quốc tế thừa nhận.

Nghị quyết mới của ban chấp hành trung ương về cải cách giáo dục được giáo sư Hoàng Tuỵ, một người phê phán mạnh mẽ những thất bại của nền giáo dục VN, là nghiêm túc và toàn diện nhất trong vài thập kỉ qua. Ông có đồng ý với giáo sư Hoàng Tuỵ về điểm này?

Từ những gì tôi biết thì nghị quyết đó đưa ra chiến lược rất tốt cho giáo dục VN ở mọi cấp độ.

Ông có quan ngại gì về chiến lược mới này?

Trong hơn một thập kỉ qua, VN đã đưa ra một số chính sách, luật và nghị định liên quan tới giáo dục như nghị định 14, luật giáo dục đại học hay gần đây là nghị quyết của Trung ương. Thách thức đối với VN không phải là chuyện diễn giải chính sách nhưng thường là ở chuyện thực hiện các chính sách đã được
thông qua.

Ông đã gắn bó với giáo dục VN hơn hai thập kỉ qua và từng chứng kiến một loạt quyết sách về cải cách giáo dục. Có cái bẫy hay trở ngại nào có thể làm trật một chiến lược tốt? Có điều gì cần cẩn trọng.

Ở VN và các nước đều có xu hướng là thường coi giải pháp với giáo dục đại học là câu chuyện nguồn lực – rằng đầu tư nhiều nguồn lực sẽ dẫn tới kết quả tốt hơn. Trong khi nguồn lực là cần thiết, đó không phải là yếu tố quan trọng duy nhất. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều lần rằng quản trị giáo dục có lẽ là thành tố quan trọng nhất. Và đó cũng là yếu tố mà rất khó đưa ra đúng được trong chính sách giáo đục đại học.

Với đại học Fulbright mà mà ông đang triển khai, có điều gì khiến ông không hài lòng. Tôi biết dự án đã được lãnh đạo hai nước công khai ủng hộ nhưng có vẻ quá trình triển khai vẫn mất thời gian và có những cản trở hành chính?

Kể từ khi đại học Fulbright được công bố trong tuyên bố chung giữa chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tổng thống Barack Obama, dự án đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Tôi rất vui mừng với sự hỗ trợ mà chúng tôi có được từ phía chính phủ Mỹ và VN. Tuy nhiên, đại học Fulbright là dự án tư nhân và phi lợi nhuận. Điều đó có nghĩa là mặc dù hỗ trợ của chính phủ là quan trọng, thành công cuối cùng của chúng tôi dựa vào chuyện vận động sự hỗ trợ của các cá nhân, các tập đoàn và các tổ chức thiện nguyện ở VN, Mỹ và các nước. Tôi tin là chúng tôi sẽ là được điều này.

Mọi ngườiđã nói nhiều về các vấn đề của hệ thống giáo dục VN: nhuốm màu tiền bạc, thiếu tự do học thuật, quản trị giáo dục kém...và có vẻ càng nghĩ thì càng thấy bế tắc. Có điểm sáng nào mà ông thấy có thể bám víu vào cho thay đổi?

Rõ ràng tài nguyên lớn nhất của VN, trong giáo dục hay trong mọi lĩnh vực khác, là con người VN. Nơi nào trên thế giới tôi đi tôi cũng gặp những sinh viên và chuyên gia VN rất tài năng. Chuyện thành bại của VN trong xây dựng hệ thống giáo dục đại học có thể hỗ trợ cho phát triển kinh tế và chuyển dịch xã hội phụ thuộc vào khả năng chính quyềncó thể thu hút một tỉ lệ những người trẻ tài năng theo đuổi sự nghiệp trong giáo dục đại học. Đặc biệt quan trọng là những người trẻ đang theo đuổi các bằng trên đại học ở nước ngoài. Họ là thế hệ những học giả và nhà khoa học tiếp theo của VN.

Sau chiến tranh, ông bắt đầu ở VN bằng việc thiết lập chương trình Fulbright, rồi sau đó là chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright,quỹ học bổng VEF rồi giờ là ĐH Fulbright. Tầm nhìn của ông với giáo dục VN khi đó và giờ sau hơn 20 năm có gì thay đổi không?

Tôi đã và sẽ luôn tin tưởng vào sức mạnh của việc trao đổi học thuật. Đầu tư vào giáo dục cho con người là đầu tư cho tương lai của đất nước. Cùng lúc, càng làm việc lâu ở khu vực này, tôi càng nhận thấy giới hạn của trao đổi học thuật. Việc chỉ gửi số lượng lớn người đi du học nước ngoài không đảm bảo

chất lượng các cơ sở giáo dục trong nước sẽ tăng lên. Một phần thách thức lớn của cải thiện giáo dục đại học là tạo môi trường để dẫn đến chất lượng học thuật xuất sắc. Đó là điều chúng tôi đang cố làm tại trường Fulbright và là điều chúng tôi sẽ cố làm ở quy mô lớn hơn tại ĐH Fulbright.

Ông có mất niềm tin vào VN? Phải chăng đó là lý do giờ ông tập trung nhiều vào Myanmar hơn là VN?

Tôi học ra một điều từ lâu rằng không bao giờ được đánh giá thấp người VN. Vì lý do đó tôi sẽ không bao giờ mất hi vọng vào VN.

Dường như những gì ông nói có vẻ ngoại giao lịch thiệp quá?

Không tôi tạo nên được sự nghiệp là nhờ chuyện phê phán VN. Không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà cả về kinh tế,...Nếu không có những lời phê phán đó thì tôi không nghĩ chúng tôi có bất
cứ ảnh hưởng gì.

Xin ông nói thêm một vài ví dụ về chủ nghĩa ngoại lệ ông thấy ở VN?

Như tôi nói hôm trước. Tôi lấy ý tưởng về chuyện ngoại lệ từ một bài báo của giáo sư Hoàng Tuỵ miêu tả tại sao ông thấy ngao ngán vô cùng khi nghe chức danh “giáo sư tiến sĩ” ở VN. Theo nghĩa đó, ở VN tạo ra hệ thống riêng về cách quy định giáo sư (ở các nước hàm giáo sư là do các trường phong) mà không làm như thế giới vẫn làm – nói cách khác VN theo cái ngoại lệ tự họ nghĩ ra. Và khi tự bó hẹp trong cái thế giới của mình mà vẫn nghĩ là mình giỏi thì đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa ngoại lệ.

Khi tự nghĩ ta có thể tạo ra một nhóm các học giả mà có cái luật lệ riêng của mình mà không nơi nào trên thế giới làm thì đó có nghĩa là chủ nghĩa ngoại lệ. Và VN có hệ thống giáo dục đại học nghĩ mình là ngoại lệ vậy.

Hãy nhìn giáo sư Ngô Bảo Châu và Đàm Thanh Sơn, họ không hề theo chủ nghĩa ngoại lệ. Họ hoà vào với thế giới. Họ đang dạy ở ĐH Chicago – đó là địa hạt của kiến thức thế giới. Hai giáo sư đó không cần chủ nghĩa ngoại lệ và họ nổi tiếng trên toàn thế giới. Chủ nghĩa ngoại lệ là cái cách mình chối bỏ và nói “tôi không muốn làm điều đó.” Tự chối bó và nói tôi không muốn thành Ngô Bảo Châu hay Đàm Thanh Sơn.

Tôi nghĩ là khá phổ biến ở VN mọi người hay tự nghĩ là mình “ngoại lệ.”

Ông đã làm việc ở VN 30 năm rồi ông có nghĩ chuyện đó là mới không?

Anh biết đấy, tôi đang làm ở Myanmar. Và mọi người hỏi tôi sự khác biệt lớn nhất giữa làm việc ở Myanmar với làm việc ở VN là gì.

27 năm trước khi chúng tôi bắt đầu làm việc với giới lãnh đạo VN, họ rất tự hào – điều có thể hiểu được – về chiến tích quân sự và ngoại giao của mình. Họ chiến thắng đế quốc Mỹ, họ thống nhất đất nước,...cái giá rất lớn nhưng họ làm được. Sự hãnh diện đó dẫn tới việc họ thay đổi sang hệ thống hiện đại hơn và tiến hành Đổi mới.

Ở Myanmar câu chuyện trái ngược hoàn toàn. Họ là những thất bại. Hơn 60 năm mà họ không có tăng trưởng kinh tế. Ở đây vẫn là cái chế độ phong kiến và giờ họ đang hi vọng vào cơ hội thứ hai để vươn lên. Một vài người có tư tưởng cải cách ở Myanmar họ không hề tự hào về quá khứ, họ thấy xấu hổ về nó thì đúng hơn.

Khi bạn chiến thắng trong cuộc chiến thứ 2 và thứ 3 ở ĐÔng Dương, bạn có quyền cảm thấy mình “ngoại lệ.”Nhưng không thể để cái suy nghĩ “ngoại lệ” đó chi phối cả hệ thống của bạn rồi giờ dùng nó như là cái lý lẽ để biện minh (cho trì trệ).

Ông có nghĩ là VN đã tới mức mà rơi vào con đường của thất bại – như kiểu Myanmar?

Không. VN phát triển chậm nhưng Myanmar còn phát triển chậm hơn nữa. Trong các báo cáo mà chúng tôi viết cho lãnh đạo VN, chúng tôi nói rõ là VN đang phát triển rất dưới tiềm năng của họ. VN đáng ra phải phát triển từ 8-10%/năm nhưng thực tế thì có lẽ chỉ phát triển ở mức 3%/năm. VN đã tự để mình phát triển chậm vậy, tiếp tục duy trì hỗ trợ cho những công ty và cá nhân hoạt động không hiệu quả.

VN đã không đưa vào khuônkhổ các doanh nghiệp nhà nước, VN đã không kiểm soát giới đại gia. VN để họ tự tung tự tác và điều đó dẫn tới tốc độ tăng trưởng chậm của VN.

Tôi nghĩ thông điệp đầu năm của thủ tướng VN, nếu đọc kỹ anh sẽ thấy đây là lần đầu tiên một chính trị
gia VN nhấn mạnh sự thay đổi của chính trị gắn liền với thành công. Tôi nghĩ là ông ta đúng. Nếu VN không thay đổi sự tham gia của các nhóm trong xã hội thì sẽ khó mà có tăng trưởng nhanh được.

Khi tôi bắt đầu làm việc ở VN hồi năm 1989, mức thu nhập GDP đầu người giữa VN và Trung Quốc tính theo sức mua (PPP) là ngang nhau khoảng 750 USD . Và giờ thì thu nhập đầu người của Trung Quốc hơn gấp đôi VN rồi. GDP đầu người tính theo sức mua (PPP) của họ sắp đạt 9.000 USD/năm còn VN thì giờ là khoảng 3.500 USD (IMF October 2013 World Economic Outlook). VN đã không tổ chức mọi thứ theo cách hiệu quả hơn như cách Trung Quốc, Hàn Quốc hay Đài Loan làm trong giai đoạn công nghiệp hoá.

VN về cơ bản thất bại trong quá trình công nghiệp hoá và giờ đang phải bắt đầu lại. Tôi nghĩ thông điệp
của thủ tướng về cơ bản nói rất rõ “tôi muốn một cơ hội thứ hai.” Và đó là điều tốt (khi ông nói vậy). Tôi khá ngạc nhiên.

Chủ nghĩa ngoại lệ ở đây là: VN không làm như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đã làm, mà tự làm theo ý VN muốn. Tôi tiếp tục đưa tiền cho những công ty không hiệu quả, tôi không thể kiểm soát giới đại gia, tôi cứ để chuyện quan liêu tiếp tục, tôi không sửa hệ thống giáo dục,...tôi có thể làm bất cứ thứ gì tôi muốn và tôi sẽ vẫn phát triển được như các nước – đáng tiếc là thực tế đã không diễn ra như vậy.  Chủ nghĩa ngoại lệ chỉ cho tôi tăng trưởng 3% trong khi đáng ra tôi phải tăng trưởng 9%.

Trong 30 năm ông gắn liền với nền giáo dục VN, ông có thấy đó là xu hướng đi xuống của hệ thống giáo dục?

Tôi nghĩ tôi từng thấy đà tiến sau khi VN gia nhập WTO. Khi đó ai cũng nghĩ đó là đà để VN bước tới một nền kinh tế tư nhân hơn – sẽ để tư nhân được chi phối quá trình công nghiệp hoá hơn. Nhưng rồi VN lại lo lắng về chuyện đó và chặn lại đà công nghiệp hoá của khối tư nhân.

VN chấp nhận để cho khối doanh nghiệp FDI được phát triển mạnh nhưng với khối phi-FDI thì VN lại đi ngược lại về hệ thống phi kinh tế thị trường trước kia. Đó là điều cần thay đổi vì cách vận hành đó không hiệu quả.

Như anh thấy, khối tư nhân thực tế bị kìm chân lại. Khối ngân hàng lấy tiền rồi cho những người không hề có năng lực, không hiệu quả vay. Đó là điều làm cho kinh tế phát triển chậm. Sự tăng trưởng chậm đã kéo dài ở VN. Trung Quốc đã phát triển tốt hơn VN rất nhiều lần. Trong giai đoạn từ 1989-2014, GDP đầu người của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi so với VN. Họ kỉ luật hơn trong quá trình công nghiệp hoá và họ ít chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa ngoại lệ.

Tôi nghĩ về nhân sự VN cần một cơ chế như tập đoàn Viettel. Một hệ thống mà bạn có thể sa thải người nếu không hiệu quả. Ở Trung Quốc, nếu giáo sư làm việc không tốt thì anh thôi không được làm giáo sư nữa.

Có điểm nào trong chiến lược giáo dục mới khiến ông chú ý không?

Tôi nhớ nghị quyết 14/2005 của chính phủ về đổi mới giáo dục cuối cùng thì dường như VN chẳng thực hiện nghị quyết đó. Nghị quyết đó cũng tốt nhưng cuối cùng thì VN chẳng làm gì cả. Vấn đề luôn là triển khai chứ những gì họ nói thì đều ổn.

Nếu về nghị quyết có lẽ tôi sẽ viết khác đi về vấn đề nhân lực. Tôi cũng nghĩ là chuyện tự chủ (đại học) là không đủ mà còn cần nói về quản trị giáo dục. về quản trị, ở VN hệ thống quản trị giáo dục vẫn đóng. Chưa có cơ chế mở về lựa chọn hiệu trưởng hay hội đồng lãnh đạo đại học ở VN nhưng không nên lẫn lộn giữa tự chủ và quản trị giáo dục. Giáo dục VN cần sự quản trị giáo dục mới – một sự quản trị mà tạo ra được thành tựu về mặt học thuật. Quản trị giáo dục nên tư duy như kiểu các hãng tư nhân vận hành: hệ thống cũ vận hành không tốt thì nên thay đổi. Ở ĐH Fulbright, chúng tôi sẽ vận hành khác đi.

Từ cái báo cáo về giáo dục đại học năm 2008 mà ông viết cùng với Ben Wilkinson thì các vấn đề đã thay đổi thế nào?

Thực tế thì có rất nhiều người trong Đảng muốn đẩy những ý tưởng chúng tôi đưa ra (trong báo cáo).

Giáo dục thực tế rất giống một hệ thống độc quyền. Nếu anh để các nhóm tư nhân tham gia vào, hệ thống giáo dục sẽ thất bại. Giáo dục không thể là mô hình vì lợi nhuận được. Các đại học ở Mỹ không phải là các trường vì lợi nhuận. Ngay kể cả các đại học tư nhân thì họ cũng không phải vì lợi nhuận. Nếu để kiếm tiền thì anh sẽ chẳng bao giờ có những khoa như vật lý học, anh chẳng thể kiếm tiền bằng việc dạy kịch Shakespeare, không thể kiếm tiền khi anh dạy nhạc, dạy nhân chủng học hay triết học. Thực tế là anh lỗ. Và anh cần nhà nước phải trợ cấp thông qua tiền học hay thông qua các dự án nghiên cứu. Đó là lời khuyên của chúng tôi cho chính phủ VN – đừng dùng hệ thống giáo dục chỉ toàn các tập đoàn tư nhân.

Vậy trường đại học Fulbright sẽ khác thế nào?

ĐH Fulbright là đại học phi lợi nhuận. Chúng tôi không cố kiếm lời bằng trường ĐH Fulbright. Đây sẽ là
đại học phi tư lợi nhuận đầu tiên ở VN mà không phải là công ty. Cái mới ở ĐH Fulbright là chúng tôi không chỉ muốn dừng là ĐH mới tốt nhất ở VN mà chúng tôi muốn một đại học mới tốt nhất trên thế giới.

Chúng tôi không định mang Harvard tới VN mà chúng tôi chỉ muốn dùng hệ thống công nghệ mới cho giáo dục, một đại học hàng đầu ở thế giới đang phát triển.

Trong gần 30 năm vừa rồi, điều gì khiến ông thất vọng nhiều nhất trong quá trình làm việc tại VN?

Tôi vẫn nghĩ VN sẽ thành công hơn thế. VN đã phát triển dưới sức của mình. VN đã có thể, và đến giờ vẫn còn tiềm năng để thành công – nhưng tự các bạn quyết định là không muốn thành công như vậy. Và điều đó làm tôi thất vọng.

Sao ông nói là tự quyết định không muốn thành công?

Khi tôi đọc thông điệp đầunăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tôi có cảm giác như ông có đọc cuốn sách “Why Nations Fail” (Tại sao quốc gia thất bại). Thông điệp của cuốn sách là các nước phải có những thể chế kinh tế và chính trị có sự tham gia đầy đủ của các đại diện (trong xã hội). Để là một đất nước tăng trưởng nhanh và hùng mạnh, thì cần đủ cả thế chế kinh tế và chính trị mang tính đại diện như vậy.

Đó là điều còn thiếu (tại VN) và quyết định không làm điều đó đồng nghĩa với việc là tự quyết định không
muốn mình thành công. Quyết định đó tiếp tục được lặp lại để tạo ra một sự cân bằng chính trị mà không tạo ra thay đổi. Điều đó không chỉ gây thất vọng cho tôi mà còn gây thất vọng với tất cả những người sống ở đây.

Hệ thống giáo dục VN thì đang khủng hoảng và ông nói về việc xây dựng một trường đại học hàng đầu thế giới. Có vẻ là xa vời quá chăng?

Đó là thách thức rất lớn. Nguồn lực về con người là nguồn lực lớn nhất của VN.
Chúng tôi vẫn nói điều này. Một điều mà ở hệ thống giáo dục VN vẫn còn sự liêm chính chính là cuộc thi
đầu vào ở Đại học. Các ĐH công không phải là tốt nhưng những học sinh giỏi vẫn thi vào đó. Và bài thi đầu vào vẫn còn được đảm bảo (không bị tham nhũng). Chúng tôi sẽ cố tận dụng và khai thác điểm đó – vẫn còn nhiều người trẻ, giỏi đi thi đại học. Chúng tôi sẽ làm điều đó – đến giờ chưa có trường nào tận dụng được điều đó hết. Chúng tôi không phải là xây trường ở một nơi không có gì hết.

Khi tôi ở Mỹ, mọi người cũng suốt ngày tranh cãi về chuyện chất lượng giáo dục rồi đổi mới giáo dục ở đó.

Những trường chất lượng cao nhất ở Mỹ vẫn rất đảm bảo. Những trường ở top 200 ở Mỹ thì chất lượng vẫn rất tốt.

Ông có thấy những tín hiệu tích cực gì ở VN. Như ông nói tín hiệu tích cực trong bài thông điệp của thủ tướng

Tôi có thấy. Tôi nghĩ thông điệp của thủ tướng là rất ấn tượng. Tôi nghĩ điều ông muốn nói là hãy tiếp
tục cuộc đối thoại về hiến pháp đã làm từ năm ngoái. Năm ngoái khi ở VN có làm góp ý về hiến pháp các bạn có hơn 25 triệu ý kiến tham gia góp ý. Tôi nghĩ có xu hướng muốn ủng hộ việc cải cách về quản trị, về điều hành và cuộc tranh luận đó là rất sôi nổi. Tôi nghĩ thủ tướng muốn tiếp tục xu thế đó và muốn duy trì cuộc đối thoại từ năm ngoái – ông thấy những giá trị trong cuộc tranh luận đó và muốn tạo ra sự thay đổi về chính trị và tôi nghĩ đó là thông điệp rất tốt từ một chính trị gia đang tìm cái cơ hội thứ hai cho bản thân.

Một trong những điều đã thay đổi VN chính là nhờ internet. Chính trị VN giờ rất sống động cũng nhờ điều này. Internet thực tế là thành tựu của chính quyền. Chính chính quyền tạo ra sự phát triển sống động của hệ thống viễn thông này.

Tôi có nói về Viettel bởi chính nhờ Viettel mà đã có sự cạnh tranh (trong ngành viễn thông). Khi anh có cạnh tranh, thực tế người Việt thường làm rất tốt – trong khi với hệ thống mệnh lệnh thì anh chỉ phát triển chậm. VN thực tế sẽ giỏi khi đẩy vào môi trường cạnh tranh. VN vẫn còn cơ hội để có thể vào nhóm các nước thành công nhưng VN phải nhanh chân lên.

Mọi người vẫn nói về Myanmar như một điểm sẽ cạnh tranh với VN.

Myanmar là cái nơi hoàn toàn khác. Đó vẫn là chế độ phong kiến ở Myanmar. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn phát triển và tốt hơn nhiều. VN sử dụng chế độ toàn trị để đi từ đói nghèo sang một nước có thu nhập trung bình. Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc đều như vậy. Nhưng khi đã lên tới thu nhập trung bình thì phải nghĩ cách làm khác. Và đó là cái chỗ VN đang vướng lúc này. Myanmar thì thậm chí còn chưa tới cái điểm bằng VN khi VN bắt đầu xã hội chủ nghĩa sau 1945.

VN giờ vẫn là đối tượng chi phối trong mô hình Trung Quốc+1. VN vẫn là điểm đổ đến của FDI trong mô
hình Trung Quốc+1. Nhưng giờ nó ở mức giống như là anh có quá nhiều nguồn vốn FDI rồi. VN rơi vào trạng thái “lời nguyền tài nguyên.” Nhưng thay vì có dầu như kiểu Putin, VN lại có vốn FDI và FDI quá nhiều đã che hết nhưng cái xấu và vấn đề ở nội tại VN.

FDI giờ giống dầu. VN làm rất nhiều điều sai nhưng nhiều khi không để ý tới những cái sai đó (vì có FDI
che chắn cho). VN bị rơi vào trạng thái nghiện FDI (giúp che chắn sai lầm) và không chịu thay đổi. Giờ thì thủ tướng VN nói về chuyện kết nối giữa chính trị với thay đổi, nói về nền chính trị với sự đại diện của các nhóm trong xã hội. Đó là điều rất quan trọng.

Thời điểm những năm 80 đó có bao giờ ông nghĩ mình sẽ dính líu với VN lâu tới vậy?

Không, không bao giờ nghĩ là lâu tới vậy. Thực sự thì tôi mừng là sự nghiệp chính trị của tôi thất bại. Tôi thích cái nghiệp này hơn nhiều so với cái nghiệp trong chính trị nếu tôi còn theo đuổi. Nên tôi vẫn hay nói là may là tôi tranh cử thất bại.

 Đó là cái nghiệp thú vị. Tôi được ở cái ghế đầu để chứng kiến những biến chuyển của VN trong thời gian dài: cả những thành công cũng như nhưng yếu kém ở VN. Tôi có cái sự nghiệp khá thú vị ở VN. Nhưng sự thật thì sự nghiệp của tôi ở VN không chỉ đơn thuần là về VN mà về sự phát triển của VN, và quá trình xây dựng một đất nước.

Quan hệ tôi với VN giống như là cái mối quan hệ yêu-ghét. Có khi tôi yêu VN, có khi thì VN khiến tôi muốn phát khùng.

In box:
“Bất kỳ một nền giáo dục đại học có chất lượng nào đều có một số đặc điểm có tính phổ quát, vượt ra khỏi bối cảnh địa phương. Những trường đại học xuất sắc nhất trên thế giới có chung một số thuộc tính cơ bản, trong đó bao gồm tự do học thuật, trọng dụng nhân tài, và minh bạch. Nỗ lực cải thiện giáo dục đại học mà bỏ qua những phẩm chất vô hình này thường không bao giờ đem lại kết quả mong muốn. Các trường đại học nên bắt rễ sâu từ nền văn hóa bản địa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu dùng văn hóa bản địa là cái cớ để hạn chế những nguyên tắc cốt lõi của đại học, như tự do học thuật
chẳng hạn.” (trích đáp từ của Thomas J. Vallely)

Cưỡng chế thế này sao không mất lòng tin?

Unknown | 7:13:00 PM | 0 comments

Vào dịp này năm ngoái dư luận cả nước đổ dồn vào vụ cưỡng chế một công trình xây dựng trái phép tại phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Các nguồn tin chính thức lúc đó cho biết, đó là khu đất có ký hiệu  NO4-X với diện tích hơn 1.700m2 do Công ty CP Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng (INDECO) làm chủ đầu tư. Cùng thời gian này INDECO còn được UBND Thành phố Hà Nội cấp phép đối với hàng chục dự án xây nhà ở để bán tại một số khu đất kẹt khác thuộc Phường Dịch Vọng và việc này cũng đang bị nhân dân phản đối rất dữ dội. Các cơ quan chức năng cũng đã kết luận đây là trường hợp tham nhũng có tổ chức, được "bảo kê" từ dưới lên trên, và nhờ đó đã kéo dài trong nhiều năm bất chấp sự cảnh báo, phản đối và khiếu kiện từ công chúng. 

Khi đó dù biết rằng cuộc cưỡng chế là miễn cưỡng và chỉ nhằm xoa dịu sự bức xúc của người dân... nhưng dư luận công chúng vẫn hả hê khi thấy công trình được "xử lý".   

Quang cảnh toàn khu biệt thự kiêm Nha thờ trị giá trăm tỉ chụp trước giờ G   
                                                                                      

Những nhát đập phá cưỡng chế đầu tiên .vào ngày 3/10/2013
Xem thêm chi tiết tại đây

Tuy nhiên, hôm nay ngày 14 tháng 4/2014 tức là hơn 1 năm 1 tháng sau ngày ấy, tôi có dịp đi qua đây thấy khu biệt thự vẫn ung dung tự tại với lá cờ đỏ sao vàng tung bay hoành tráng! Phải chăng đây cũng là một trong những trường hợp hi hữu trong lĩnh vực cưỡng chế đất đai kiểu chiếu lệ hình thức nửa vời như vậy tại đất nước này?


Qua tiếp xúc với một số người dân sống quanh đó, họ đều đưa ra những lời nhận xét mỉa mai chua chát: "Đụng phải nhà ông to", "trò giả vờ", "trò phù phép"... và cả những câu chưởi tục không tiện trích ra đây. Cũng còn vài người phân vân hy vọng...


Tôi thì nghĩ, cưỡng chế thế này thì thà không còn hơn. Tiếc cho hàng chục tỷ đồng chi cho quá trình cưỡng chế cùng với số tài sản bị đập bỏ mà suy cho cùng tất cả đều là của công quỹ mà ra. Nhưng điều đáng tiếc nhất là lòng tin của nhân dân vào chính quyền đã mất lại còn mất thêm trong khi những thế lực tham nhũng càng trở nên "nhờn thuốc" để tiếp tục sinh sôi nẩy nở ngày càng mạnh hơn./.    

Lòng tin và hệ lụy của nó

Unknown | 6:21:00 PM | 0 comments

Cảnh cúng bái cầu tài cầu lộc diễn ra hàng ngày tại Đền Bà Chúa Kho 
Động lực sống của con người là lòng tin. Nó có thể là niềm tin vào thánh thần hay một lý tưởng chính trị, hoặc tin vào chính bản thân mình, hoặc đôi khi chỉ là sự ngưỡng mộ đối với một thần tượng, v.v... Niềm tin quan trọng hơn nội dung của nó, hay nói cách khác, sự đúng sai của điều mà người ta tin vào đôi khi không quan trọng bằng những gì dẫn dắt người ta đến với nó.  Niềm tin có thể rất cụ thể, cũng có thể mơ hồ trừu tượng, nhưng dù ở dạng nào, nó đều có vai trò như một cái phao cứu sinh đối với con người bé nhỏ bất lực trong vũ trụ bao la vô định. Lòng tin cũng là lẽ sống, nên thường khi người ta không có hoặc bị mất niềm tin, tâm hồn sẽ trở nên trống rỗng, sức lực suy sụp và cuộc đời vô nghĩa.

Đó chính là lý do tại sao các loại tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau hình thành và phát triển trên thế giới từ thời thượng cổ đến nay. Và đó cũng là nguyên nhân tại sao các tôn giáo, tín ngưỡng dù khác nhau, thậm chí trái ngược, xung khắc lẫn nhau, nhưng vẫn cùng tồn tại trong xã hội loài người. Và dù muốn hay không, tín ngưỡng là một nhân tố sống còn đối với con người, đồng thời cũng rất dễ bị lợi dụng bởi những thế lực hắc ám chuyên nghề buôn thần bán thánh.  

Lòng tin không chỉ quan trọng đối với cá nhân mà còn quan trọng đối với cộng đồng và quốc gia. Mỗi quốc gia cần có sự cố kết trên cơ sở lòng tin do chính công dân của quốc gia đó lựa chọn một cách không gượng ép cũng không mù quáng; nếu vì một lý do nào đó dẫn đến sự lựa chọn mù quáng thì đó là sự mê tín tai hại. Có thể nói, lòng tin đóng vai trò quyết định đối với sự sống còn của một quốc gia. Nơi nào và khi nào không có lòng tin hoặc lòng tin lung lay, nơi đó sẽ trở nên xung yếu và dễ rơi vào khủng hoảng, thậm chí tan rã. 
  
Việt Nam là một trong những quốc gia dân tộc có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng lòng tin nhờ có tư tưởng phật giáo cùng với đạo lý hòa hiếu và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã ăn sâu bám rễ hàng ngàn năm. Tuy vậy, đất nước này cũng không tránh khỏi những chu kỳ thăng trầm khi lòng tin của dân chúng bị đánh mất và vận nước lâm nguy dẫn đến muôn nỗi bi ai như đã thấy trong lịch sử dân tộc. Giờ đây phải chăng một chu kỳ như vậy sắp tái diễn? Đây không chỉ là câu hỏi mà còn là một lời cảnh báo nếu xem xét  bối cảnh tình hình chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước trong mối tương quan khu vực và quốc tế ngày nay. 

Thực tế mấy chục năm nay cho thấy có tình trạng người dân từ chỗ chỉ biết tin vào một hướng là sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước sang chỗ hoài nghi hoặc không biết tin vào đâu. Đây không phải là một ý kiến suy diễn mà đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và được bàn luận công khai trong xã hội. Chỉ có điều, nguyên nhân và giải pháp thì còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
   
Còn nhớ, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, đại đa số nhân dân từ Nam chí Bắc và cả số kiều bào còn ít ỏi lúc bấy giờ đều tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, tin đến nỗi nhiều người đã từ bỏ cả tín ngưỡng của họ để đi theo lý tưởng cộng sản. Và có thời kỳ lòng tin đó đã từng có sức lan tỏa và cuốn hút mạnh mẽ như một tín ngưỡng vậy. Tuy nhiên, lòng tin như vậy đã bắt đầu có dấu hiệu lung lay kể từ sau ngày thắng lợi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước năm 1975. Dấu hiệu đầu tiên là sự rời bỏ tổ quốc ra đi của hàng triệu con người không chỉ "người của chế độ cũ" mà cả doanh nhân và dân thường. Và sự ra đi vẫn tiếp diễn cho đến nay, chỉ khác ở nhịp độ và cách thức lặng lẽ hơn, với thành phần chủ yếu là người lao động, doanh nhân, sinh viên và cả giới văn nghệ sĩ, trí thức cùng một số quan chức đã nghỉ hưu hoặc đương chức. Hầu hết các trường hợp ra đi đều có tính toán với mục đích lâu dài. Thực chất đó là một dạng "chảy máu chất xám" rất không đáng xảy ra đối với đất nước trong giai đoạn rất cần nhân lực để phát triển. 

Sự mất lòng tin còn thể hiện ở trào lưu mê tín dị đoan vốn đã lắng xuống trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc nay lại trỗi dậy như nấm sau cơn mưa. Nó không chỉ lôi kéo dân thường mà cả cán bộ, quân nhân, kể cả đảng viên và cấp lãnh đạo. Nó cho thấy một lẽ thường tình thôi, đó là khi con người ta hoang mang thì có xu hướng tin vào những khái niệm mơ hồ huyền bí như thánh thần hoặc bất cứ điều bí ẩn nào đó để lấp chỗ trống tinh thần đang hụt hẫng của họ. Đó là lý do tại sao ngày càng có nhiều người và nhiều hình thức cúng bái cầu tài cầu lộc, cầu cho bản thân được hơn người, cầu cho thánh thần trừng trị đối phương, đối tác... Để đáp ứng nhu cầu mê tín dị đoan đang tăng lên đột xuất, hàng loạt chùa chiền, đền thờ miếu mão mọc lên như nấm trên khắp các vùng miền dưới danh nghĩa tôn tạo di tích văn hóa-tâm linh, phục hồi truyền thống tín ngưỡng v.v...

Sự mất lòng tin còn thể hiện ở  nhiều khía cạnh khác. Đó là sự sa sút về đạo đức, lối sống trong quan hệ xã hội cũng như trong ý thức chấp hành kỷ cương luật lệ của  nhà nước. Chưa bao giờ người ta có thể giết nhau một cách "máu lạnh" chỉ vì một nguyên nhân không đâu hay một lợi ích nhỏ nhoi như bây giờ. Không yêu được nhau cũng giết, để cướp vài chục nghìn đồng cũng giết, con giết cha, vợ giết chồng, thậm chí bác sĩ giết bệnh nhân, v.v...Đó là gì nếu không phải sự suy đồi luân thường đạo lý? Chưa bao giờ tình trạng tham nhũng ngang nhiên lan tràn trước sự bất lực của Nhà nước như bây giờ. Chưa bao giờ trật tự kỷ cương đường phố làng xã bị vi phạm một cách tệ hại và phổ biến như bây giờ. Chưa bao giờ sự vô cảm trở căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bây giờ.    
  
Sự mất lòng tin như nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân và yếu tố tâm lý khác nhau. Trong số những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, bên trong hoặc bên ngoài, thì sự sai lầm về đường lối chủ trương chính sách kinh tế-chính trị-xã hội đóng vai trò chính nhưng chỉ được nói đến bằng những bí danh "lỗi hệ thống", "lỗi cơ chế"... Vẫn biết sai lầm là hoàn toàn có thể hiểu được, nhưng tiếc rằng sai lầm mà không được kịp thời thừa nhận để rút ra bài học khắc phục. Chẳng hạn có những sai lầm phạm phải trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc như cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở thành phố và tập thể hóa ruộng đất ở nông thôn lại tiếp tục đem ra áp dụng ở miền Nam; những phương pháp và biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng khắc khổ lại được tiếp tục áp dụng, v.v... khiến người dân không được phút ngơi nghỉ để hưởng bầu không khí hòa bình độc lập tự do và phải tiếp tục lao vào những cuộc đấu tranh, học tập, cải tạo đến sức cùng lực kiệt. Đồng thời trong lúc đó hình ảnh những người cán bộ và anh bộ đội Cụ Hồ một thời lung linh cao đẹp đã nhanh chóng biến thành những con người thực dụng tầm thường trước mắt bàn dân thiên hạ. Xu hướng tự tư tự lợi dựa vào địa vị chức quyền trỗi dậy trong "một bộ phận không nhỏ" cán bộ đảng viên với những khuyết tật muôn thuở của giới cầm quyền; nó khiến bộ máy công quyền nhanh chóng phình to nhưng ngày càng kém hiệu quả; hệ thống hành chính bị người dân gọi là "hành dân là chính"; những khẩu hiệu như "lấy dân làm gốc", "do dân, vì dân"...đã bị người dân đem ra đùa tếu hàng ngày.  Trong lúc người dân ngày càng mất kiên nhẫn thì nội bộ giới lãnh đạo chia rẽ thành các nhóm lợi ích khác nhau, có chăng chỉ còn chung thứ lập trường của tầng lớp đặc quyền đặc lợi với cái gọi là "lý tưởng cách mạng" bị lợi dụng làm tấm bình phong.  Sự tùy thuộc lẫn nhau trong xã hội trở nên lỏng lẻo, lòng dân ly tán với tâm lý bất tín, bất an, bất phục ngày càng lan rộng trở thành lực cản đối với tiến trình phát triển và tiến bộ của đất nước. Tâm lý mất lòng tin khiến người ta nghi ngờ tất cả  bất luận đó là thật hay giả, đúng hay sai; và nó như một hiệu ứng domino khiến tình hình ngày một tồi tệ. Một khi lòng tin trong mỗi người đã mất thì rất khó để lấy lại. Nếu trước đây Đảng bảo gì dân nghe theo, thì bây giờ mọi sự chỉ đạo đều có thể bị phớt lờ, thậm chí bị xuyên tạc bóp méo. Người ta không thể cứ kêu gọi hãy tin ở tôi vì tôi là Đảng nên bao giờ cũng do dân, vì dân..., và Đảng bao giờ cũng đúng!  

Nhiều người tin rằng hễ mất lòng tin ắt sẽ dẫn đến sự sụp đổ. Và họ quyết định ngồi đó chờ đợi trong khi những người đương quyền tất nhiên phải ra sức trì hoãn và các nhóm lợi ích thì tranh thủ cơ hội "đục nước béo cò". Sụp đổ là vạn bất đắc dĩ, nhưng nếu được sụp đổ có khi lại tốt. Điều tai hại hơn là tình trạng mất lòng tin cứ thế tiếp diễn kéo dài chỉ đủ mức để phá hỏng mọi nỗ lực phát triển quốc gia và do đó làm tăng thêm nguy cơ mất độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ trước kẻ thù truyền kiếp. Đây chính là vòng luẩn quẩn và cũng là kịch bản đáng sợ nhất của đất nước này.

Hà Nội, ngày 27/3/2014
Trần Kinh nghị

Bài cùng chủ đề:
http://www.tudoimoi.org/Aff_mot_bai.php?param=833

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản? (*)

Unknown | 12:12:00 PM | 0 comments
(*) Nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn San đến Nhật Bản, Bách Việt xin mạn phép đăng lại nguyên văn bài viết của tác giả Phạm Hoài Nam đăng tại Đàn Chim Việt (với một vài ảnh minh họa của Bách Việt mới chụp trong chuyến du lịch Nhật Bản gần đây). Nôi dung trong bài viết không nhất thiết phản ánh quan điểm của chủ blog.

Đi bộ từ ga tàu điện đến nơi làm việc là cảnh tượng phổ biến

Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.

Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.


Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi cái hay của người khác. Một dân tộc đã từng đánh bại các đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả – đó là một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh.

Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật – đó là nhìn qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo….

Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: “Người Nhật là kho tàng của nước Nhật”. Tôi rất cám ơn đất nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu mạnh. * * *

Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2 tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư. Cùng là hai nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.

Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các diễn đàn Internet đặt câu hỏi: “Tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật”, phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ đang sống ở Việt Nam. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi số phận của đất nước mình.

Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.

Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất xa. Trong cuốn “Niên Biểu” cụ Phan bội Châu đã kể lại kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905). Những điều tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu: “Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!”.

Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm. Thiên tai vừa rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923 và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn “tinh thần Nhật Bản” trong cơn nguy biến.

Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho 130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân nửa của Tokyo bị tiêu hủy. Trong quyển “Thảm nạn Nhật Bản” (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời đó thuật lại: ”Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình”chứng tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu đời.

Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000 người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của Nhật Hoàng Hirorito: “Chúng ta phải chịu đựng những điều không thể chịu đựng nỗi”.

Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.

Một bảo tàng được tổ chức chỉnh chu

Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ “Phép lạ kinh tế” phát xuất từ hiện tượng này.

Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers) – vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng này muốn biến nước Nhật trở thành một “Nước Mỹ lý tưởng” hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu. Tuy cuối cùng kết quả không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng MacArthur.

Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: “Người Nhật: Một Dân Tộc Vĩ Đại”. Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài “Những điều người Nhật có thể dạy chúng ta” của ký giả Nicholas Kriftoff.

Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: “Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không”.

Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.

Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình.

Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.

Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những căn nhà đổ nát không ai màng tới thì đừng nói chi đến chuyện hôi của. Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ này.”

Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau bắt tay xây dựng lại.

Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối.

Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt được kỷ lục này.

Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường dân đều tự tin rằng: “Chúng tôi sẽ phục hồi” như họ đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn thay đổi.

Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người viết – chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất nước. Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ, đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ tinh thần kỹ luật và lễ phép.

Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫm bình thản chờ đợi thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỷ… không phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh của người Nhật trong thiên tai vừa qua.

Nước Nhật đâu đâu cũng thấy cây cỏ hoa lá xanh tươi nhờ bàn tay chăm bón của con người

Trông người lại nghĩ đến ta!

Trong bài “Góc ảnh chiếu từ nước Nhật”, nhạc sĩ Tuấn Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:

“Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn”.

Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra?Bà Mạc Việt Hồng đã diễn tả bức tranh đó như thế này:

- Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.

- Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.

- Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.

- Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.

- Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.

- Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.

- Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.

- Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.

- Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.

- Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.

…v.v….

Tôi không nghĩ là bà Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào. Nói chung nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng “mạnh được yếu thua” hay “khôn nhờ dại chịu”, còn quan chức chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.

Ngay tại hải ngoại, nếu thiên tai xảy ra tại những nơi tập trung đông đúc người Việt, phản ứng của người dân có thể không tệ như trong nước nhưng chắc chắn bức tranh đó cũng sẽ không được đẹp đẽ cho lắm.

Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao người khác và rẻ rúng thân phận của mình – vì phải giữ lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với những quan điểm như thế.

Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt, cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm những gì. Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó, nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp nhận để đầu hàng hoàn cảnh. Gần một trăm năm nước đây, Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược bằng những toa thuốc cực đắng như “AQ chính truyện”, gần đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với “Người Trung Quốc xấu xí” cũng được nhiều đồng bào của ông cho đó là một đóng góp đáng kể. Cuộc cách mạnh Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu “Người Nhật xấu xa” xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra khỏi căn bệnh lạc hậu.

Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc an thần.

Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như những gì mà người CS đã làm đối với dân VN trong hơn nửa thế kỷ qua, và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.

Người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh thần vọng ngoại mù quáng. Chúng ta thù ghét sự hiện diện của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào người ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.

Mỗi khi nói về những tệ hại của đất nước VN hiện nay đa số chúng ta thường hay đổ hết trách nhiệm cho người Cộng Sản. Thật sự CS không phải là thành phần duy nhất chịu trách nhiệm cho những bi kịch của đất nước hôm nay, họ chỉ là sản phẩm đương nhiên của một nền văn hóa thiếu lành mạnh. Nếu CS là nguyên nhân của mọi sự xấu xa thì thành phần người Việt đang sống tại những quốc gia văn minh và giàu có nhất thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc… phải là những người thể hiện nếp sống văn hóa cao xứng đáng với xã hội văn minh mà họ thừa hưởng. Nhưng không, những người Việt đó, tuy khá hơn người trong nước nhưng vẫn thua kém nhiều sắc dân khác, vẫn mang tất cả những khuyết tật mà cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã nêu ra gần một trăm năm trước. Vẫn chia rẽ, vẫn tỵ hiềm nhau, vẫn xâu xé lẫn nhau, có khi chỉ vì bất đồng quan điểm, có khi chỉ vì một quyền lợi thật nhỏ, thậm chí có khi chỉ vì một hư danh.

Không phải là một tình cờ của lịch sử mà chủ nghĩa CS đã dành được những thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa thu năm 1945, và luôn luôn giữ thế thượng phong trên đất nước VN từ đó đến nay. Dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh thay vì Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… hoàn toàn không phải vì Hồ Chí Minh giỏi hơn, yêu nước hơn, nhiệt tình hơn những người kia, nhưng chỉ vì Hồ Chí Minh đáp ứng đúng tâm lý của người Việt – đó là tâm lý tôn thờ bạo lực. Chắc chắn không có nước nào trên thế giới này mà bài Quốc Ca có câu sắt máu như thế này: “Thề phanh thây uống máu quân thù”, mà “quân thù” đó bất cần là ngoại bang hay đồng bào ruột thịt, nghe mà rợn người. Khẩu hiệu của phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930, 31 do đảng CS lãnh đạo là: Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc trốc tận rễ.

Đối với người VN bạo lực có sức quyến rũ hơn là nhu cầu khai sáng trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa CS dựa trên bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp. Giải pháp bạo lực này đòi hỏi phải luôn tồn tại một kẻ thù làm đối tượng. Hết kẻ thù thực dân phải tìm ra một kẻ thù khác để có lý do hành động, chính vì thế cho nên máu và nước mắt vẫn tiếp tục rơi trên đất nước VN trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh, Phan Chu Trinh chọn giải pháp Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh. Theo ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ. Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc nô lệ ở một hình thức khác.

Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, ông là một trong những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa mà ra.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài nước chọn chủ nghĩa CS trong đó có VN, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới. Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc, của VN chớ không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác. Người Cộng sản biến dân tộc VN trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối CS và Tự Do và luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc “bước ra khỏi cửa là thấy anh hùng”.

Hà Sĩ Phu đã có nhận xét rất đúng là giữa Hồ Chí Minh và Phan Chu Trinh, dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh và những bi kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự chọn lựa đó.

Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản, kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa, nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay cả cụ Phan Bội Châu – một đồng chí thân thiết với cụ trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.

Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị dân, những điều tự hào không có thật. Ông là người nhìn thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc cứu chữa.

Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.

Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá lớn giữa hai đất nước. Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc. Vào thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ. Đến thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để vươn lên thành một cường quốc kinh tế.

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn giáo, chủng tộc… mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ (mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng một thử thách. Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu hay VN ngày nay mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình thường, trong lúc đó tại một nước khác – một bộ trưởng chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin lỗi quốc dân rồi từ chức (1)? tại sao một quốc gia nhỏ bé như Do Thái chưa tới 3 triệu dân (2) có thể chiến thắng cả khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh cho đến ngày hôm nay? Trong lúc đó có những nền văn minh đã từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất … và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi dân tộc.

Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu, cho dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria, Venezuela, Angola, Libya… mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn là những nước nghèo.

Bước ngoặt quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức tường cung điện ở Huế. Họ không thấy được thế giới đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương.

Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người Nhật thức tỉnh ngay. Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm. Đó là một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy mang về thay đổi đất nước. Họ từ bỏ một cách dứt khoát tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Tây Phương.

Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của họ.

Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của một dân tộc nhược tiểu. Nhưng tất cả những nỗi đau đó vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.

Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến. Nhưng tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước khúc quanh của lịch sử. Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ của người Pháp và đâu phải chịu tai họa Cộng Sản kéo dài đến hôm nay.

© Phạm Hoài Nam

_____________________
Ghi chú:
(1) Ngoại trưởng Nhật Seiji Maehara từ chức ngày 6 Tháng Ba 2011 vì nhận 600 Mỹ kim cho quỹ chính trị từ một người ngoại quốc.
(2) Dân số Do Thái vào thời điểm 1967 là 2.7 triệu người.