Showing posts with label Vũ Khiêu. Show all posts
Showing posts with label Vũ Khiêu. Show all posts

Tạp luận - VIỆC TRÁI ĐẠO LÝ KIỂU GÌ CŨNG CÓ THỂ

Unknown | 3:24:00 PM | 0 comments
Việc trái đạo lý kiểu gì cũng có thể
Đào Dục Tú
Theo blog Bà Đầm Xòe 
Nhiều năm trở lại đây, đặc biết kể từ thời điểm “nhóm lợi ích ” được định danh chính thức trên các diễn đàn long trọng, ám chỉ (ám chỉ thôi !) các thế lực ( tạm dùng lại từ) tài phiệt thao túng nền kinh tế và đôi ba người đứng đầu chính thể quyết liệt. . . chỉ trích bầy sâu tham nhũng “ăn hết phần của dân”, thì người ta thấy biết bao sự việc lớn nhỏ ở nước mình đến giầu tưởng tượng hư cấu như các nhà văn. . . không tưởng và hoang tưởng cũng không sao hình dung được. Ví như dăm bẩy vụ người dân được gọi đến công an làm việc, phòng ốc nào cũng chữ đỏ viền vàng lời dậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về chỉ là cái xác đầy thương tích thoi thóp thở; và vụ việc ở thị xã Tuy Hòa rúng động công luận tới mức người đứng đầu quốc gia phải lên tiếng , “vào cuộc”. Ví như, ví như. . . quả thật là “đố ai quét sạch lá rừng” . Mới đây lại thêm việc một ông kỹ sư “tháo tung” truyện thơ Kiềutuyệt đỉnh ngôn từ nghệ thuật Việt thế kỷ 18, thành cái gọi là ” Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại phổ thông đại chúng và trong sáng”.

Tác phẩm “siêu hiện đại” ” trên cả tuyệt vời ấy” ấy được công bố dưới hình thức sách pho to biếu đại biểu trong cuộc hội thảo mang cái tên vừa văn hoa lại vừa khoa học (chuẩn không phải chỉnh nhé !) là “Giòng chẩy văn hóa xứ Nghệ từ truyện Kiều đến phong trào thơ mới”. Và không kém phần quan trọng “cộng” long trọng, là được một nhà văn, nhà khoa học xã hội, nhà. . . . anh hùng lao động XHCN lão thành cổ vũ hết lời.

Với “tinh thần khoa học rất nghiêm túc” ông kỹ sư ấy đã tháo tung truyện Kiều như người ta bổ máy, đại tu ô tô xe máy, nhắm cái đích “phổ cập hóa truyện Kiều cho quảng đại quần chúng”. Muốn làm được công việc văn hóa “vì dân ta” như thế, trước hết ông kỹ sư “gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ tiếng Việt”-như lời đề dẫn của nhà khoa học xã hội đầu ngành lão thành có tên gọi Vũ Khiêu. Thật không thể nào hiểu nổi nữa! Nói nôm na truyện Kiều mãi mãi được người mình yêu, nàng Kiều mãi mãi được người mình quý, có lẽ trước hết bởi thơ Kiều đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đại chúng, nghĩa là của tuyệt đại đa số dân Việt, cả người bình dân lẫn người có học, từ các bậc thức giả khả kính “sách gối đầu giường” đến người . . . một chữ bẻ đôi không biết (thời phong kiến cả làng chỉ có ông đồ Nho là “có chữ”). Thế nên trên dưới ba thế kỷ qua, chuyện “bà già nhà quê” truyền miệng nhau thơ Kiều, có người đọc ngược từ câu cuối lên câu đầu hơn ba ngàn câu thơ Kiều ,”không sai một chữ”, đâu có còn là huyền thoại và người “yêu Kiều” đến thế đâu chỉ có ở một vùng miền nào, Nam Định, Bắc Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh. . . đâu đâu cũng có hết. Và biết bao nhiêu cây bút thời danh đời nào chẳng hiện diện, biết bao nhiêu học giả, người làm công việc nghiên cứu văn học, phê bình văn học, kể cả các bậc chính nhân quân tử, chính khách có tiếng, chí sĩ ái quốc lừng danh . . . đã bàn thảo ,đã luận định, thẩm định, luận giải, bình giải giảng giải về thơ Kiều hàng trăm năm nay. Truyện Kiều có cần phải viết lại, làm mới lại không dưới chiêu bài “đại chúng hóa, hiện đại hóa”? Hàng nghìn câu thơ Kiều có cần phải một ông kỹ sư làm cái việc vô bổ ” vẽ rắn thêm chân” (tôi không nghĩ nó có hại gì đáng kể vì người biết đọc biết viết tiếng Việt không ai đọc nổi “Kiều mới” ngô ngọng kiểu đó, trừ số ít người, xin bỏ quá cho, nói thật, thiểu năng trí tuệ-thiểu năng văn học).Tiếng Việt trong truyện Kiều có cần phải làm cho trong sáng không – như mục đích cao cả của những người tung hô …tân Kiều (đối lập cựu Kiều !) Người viết kiến văn hạn hẹp, mỹ cảm văn chương cấp độ “gốc nhà quê” không dám lạm bàn, xin giành để các vị mũ cao áo dài tài cao học rộng làm chức phận cao cả của mình. Người viết chỉ xin mạo muội “ngồi góc cột nhà” nói … leo vài ý. Một trong những “thành tố” làm nên giá trị cổ điển của thơ Kiều là điển cố văn học. Người ta sợ chữ Hán, điển cố văn học Trung Hoa, “ngại Hán” đến mức câu thơ “cựu Kiều” (!)” Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi Trương” thành câu “tân Kiều” (!) ” Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang”. Hay câu ” Một đền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều “điển cố nói tham vọng của Tào Tháo thời Tam Quốc nổi danh lịch sử Trung Hoa phong kiến cổ muốn san bằng đất Đông Ngô, nhằm cái đích đem “nhị kiều” xứ này (vợ Ngô Tôn Quyền và vợ Chu Du, hai chị em ruột có tiếng mỹ nhân )) về đền Đồng Tước hoa lệ “sủng ái”, được người ta viết lại thành “Buồng đào nơi tạm khóa xuân hai kiều” thì thật không còn biết nói gì thêm nữa, không còn muốn nói gì thêm nữa… Hay câu thơ “Thực là tài tử giai nhân – Châu Trần còn có Châu Chần nào hơn”- lời ông quan xử án khen thơ Kiều “giá đáng thịnh Đường” và khen Kiều với Thúc Sinh đẹp đôi, điển cố nhắc chuyện đời xưa bên Trung Hoa có hai họ Châu và họ Trần đời đời kết thông gia với nhau, nay một câu được ông kỹ sư sáng tác thành “Lứa đôi còn có gì cần nhiều hơn”. Chán đến thế là cùng! Có thể các cụ già làng tôi, làng anh, làng chị thuộc lòng từng đoạn hoặc cả tập thơ Kiều, chữ quốc ngữ chỉ biết lỗ mỗ, không đọc “Điển cố văn học”, không có trong tay bộ “Từ điển truyện Kiều’ của cụ Đào Duy Anh khả kính như các bậc… học giả, nhưng không vì thế mà người ta thấy tiếng Việt truyện Kiều thiếu trong sáng, khó hiểu, đến mức không muốn “thuộc” thơ Kiều, không muốn ngâm thơ Kiều, lấy thơ Kiều để ru con ru cháu ngủ hay đưa truyện Kiều vào các cuộc “tập Kiều”, “đố Kiều” thi tài trí, không muốn âm thầm hoặc đọc to lên câu Kiều ứng với số phận, thân phận của mình trong một ngữ cảnh nào đó. Và cấp độ cao hơn, lấy truyện Kiều cùng với tầm ảnh hưởng rộng lớn, đa diện phong phú của một tác phẩm văn học làm nên danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du làm nguyên liệu quý giá cho các công trình nghiên cứu văn hóa ngôn ngữ, văn hóa văn chương Việt… Thể thơ lục bát ví như dòng nước trôi xuôi vô tận quen với lỗ tai thẩm thơ hàng nghìn đời truyền miệng, quen với tâm hồn tình cảm người Việt. Có ai vì điển cố văn học cổ trong đó, có ai vì những từ Hán Việt, từ Việt cổ trong đó mà “bài bác” Kiều, mà “phê’ Kiều vô lối ? Và những điển cố văn chương đó lại được các bậc thức giả cổ kim mấy trăm năm “sướng khoái” vì đáp ứng nhu cầu hiểu sâu biết rộng của họ. Cứ cái đà hiện đại hóa truyện Kiều, đại chúng hóa truyện Kiều kiểu “kỹ sư chế tạo máy” thế này thì rồi đây, tuyên ngôn chữ Hán của cụ Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà nam đế cư”, “Hịch tướng sĩ” của cụ Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô Đại Cáo” của cụ Nguyễn Trãi ” Bạch đằng giang phú” của cụ Trương Hán Siêu, rồi thơ “Cung oán ngâm khúc” của cụ Nguyễn Gia Thiều, “Chinh phụ ngâm” của hai cụ Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm” vân vân biết đâu sẽ có kẻ “điếc không sợ súng” nêu gương, noi gương “làm trong sáng tiếng Việt, hiện đại hóa thơ cổ “của các cụ giống như ông kỹ sư nào đó đang “danh nổi như phao” thì sao ? Chưa biết chừng, các vị ấy sẽ cao đàm khoát luận mà rằng các em các cháu học sinh thơi a-còng bây giờ không biết chữ Hán Việt, không biết điển cố văn học cổ, thì ngoài cách “tháo dỡ” ra viết lại, thì có cách gì để các thế hệ tương lai hiểu văn học cổ nữa !!! 

Thương quá cho những câu thơ Kiều không phải bị ” biên tập ” mà là viết lại, đổi chữ. Mà tác phẩm văn học ví như ngôi nhà tinh thần xây bằng những viên gạch chữ nghệ thuật, thay chữ thì còn gì là tác phẩm nguyên bản nữa, còn gì là giá trị văn chương mang dấu ấn lịch sử văn hóa nữa (chưa nói tới xâm hại bản quyền)! Mà viết lại, đổi chữ mới hay ho làm sao. Ví như câu thơ có điển cố “thiếp Lan Đình”, người có học một chút đều hiểu là thiếp viết chữ đẹp, viết thơ bằng… thư pháp tuyệt vời của danh sĩ Vương Hy Chi nước Trung Hoa cổ, được “con cháu hậu thế” sáng tạo thành “thiếp xem tình” thì còn gì là Kiều nữa hả trời! Tự nhiên tôi nhớ tới chuyện thật “trăm phần trăm”: có một cháu tầm tuổi ba mươi không biết do nhầm nhọt sang… trồng trọt, hay “kiến văn lỗ mỗ’ chót nhớ… sai câu thơ Kiều tuyệt hay “Vừng trăng ai xẻ làm đôi-Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường ” thành. . . ” Nửa in gối chiếc nửa soi… gậm giường ” (!). Tôi… thương cháu và thương cho cả các thầy cô nào ở đủ loại cấp học đã giảng Kiều cho cháu nghe. Thôi đành tạm chấm dứt trang tạp cảm buồn… lê thê này vậy. Chuyện thật mà như đùa đại loại thế còn đỡ, chuyện giơ bức bình phong vì dân, vì đại chúng, lại còn thêm vì khoa học nghệ thuật nữa mà làm cái việc “tháo dỡ truyện Kiều” như ông kỹ sư nào đó “bổ xe máy xịn . . . ngoại” thay phụ tùng nội địa chợ Giời “toàn phần giả và rởm” thì quá là chẳng ai nghĩ nó lại xẩy ra ở Việt Nam năm thứ mười bốn thế kỷ 21 ! .  

Đ.D.T
 

Thế Anh: SAO ÔNG VŨ KHIÊU LẠI NỐI GIÁO CHO VIỆC SỬA TRUYỆN KIỀU VÔ LỐI

Unknown | 12:08:00 PM | 0 comments

Sao ông Vũ Khiêu lại nối giáo cho việc
sửa Truyện Kiều vô lối?

Thế Anh 

Có một việc mà giới văn nghệ sỹ, cũng như những người yêu văn thơ bức xúc, đó là truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du gần đây đã bị xâm hại, mà người khuyến khích cho việc làm hỗn hào này, tiếc thay lại chính là ông Vũ Khiêu – giáo sư, Anh hùng lao động, nguyên Phó viện trưởng Phó chủ nhiệm UBKHXH Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), vẫn được tiếng (hão?) là nhà văn hóa. 

Xin đừng dung tục và hạ thấp văn chương Truyện Kiều 

Trong cuộc hội thảo về Dòng chảy văn hóa xứ Nghệ từ Truyện Kiều đến phong trào Thơ Mới tổ chức tại Khu di tích Nguyễn Du (Nghi Xuân – Hà Tĩnh), mỗi đại biểu tham dự được tặng một cuốn sách (bản photo) có nhan đề Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng, do KS. Đỗ Minh Xuân khảo dịch – Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin in năm 2012 và có lời Đề tựa của GS. Vũ Khiêu:

Với một tinh thần khoa học rất nghiêm túc, ông tìm lại hầu hết các bản Truyện Kiều từ trước đến nay, so sánh các dị bản, ông tìm đọc hầu hết các bài đã bình luận, phân tích tác phẩm và tác giả Truyện Kiều. Từ đó, ông đã có ý tưởng lớn là làm thế nào để phổ cập hóa Truyện Kiều cho quảng đại công chúng, ông gạt bỏ những câu chữ khó hiểu từ tiếng Hán để thay bằng ngôn ngữ thuần Việt trong Truyện Kiều… Tôi hoan nghênh công phu nghiên cứu của ông Đỗ Minh Xuân và tin rằng cuốn sách này của ông là một đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu Truyện Kiều… 

Không hiểu cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin in và phát hành chưa, vì chúng tôi không thấy xuất hiện trên thị trường sách ở Hà Nội, vả lại cách bố cục của cuốn sách cũng có những nét đặc biệt khác với thông lệ của một ấn phẩm văn chương, chẳng hạn trong lời mở đầu cuốn sách tác giả đã có lời Kính cáo cụ Nguyễn Du và xin phép cụ để xuất bản bản khảo dịch Truyện Kiều này vì ông cho rằng người đọc Truyện Kiều ngày nay, không còn thịnh như trước đây do rào cản về điển tích, từ Hán, từ cổ, từ địa phương… Tiếp theo là Lời nói đầu (16 trang) và cuối mỗi trang đều có một câu Lời nói đầu, Truyện Kiều với tiếng Việt hiện đại (Đánh dấu tuổi 80, bản in 15-11-2012). Sau đó là văn bản Truyện Kiều thì lại đánh số trang bằng tiếng Pháp (từ page 1 đến page 109 và cuối cùng là lời Tự bạch cho Truyện Kiều 15-11-2012 (16 trang) nhưng thực chất là bản tự thuật của tác giả theo kiểu liệt kê trong gia phả và kể lể công lao thành tích trong quá trình hoạt động Cách mạng mà chẳng có gì liên quan đến vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều cả.

Trong cuốn sách tác giả có nhắc đi nhắc lại hai lần Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du, UNESCO đã công nhận Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều này không đúng, Nguyễn Du chỉ mới được Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ niệm 200 năm (1965) ngày sinh của ông cùng với 8 danh nhân văn hóa khác của thế giới trong đó có nhà thơ La Mã Horace, nhà thơ Ý Dante, nhà bác học và là nhà thơ Nga Lômônôxôp… chứ chưa được UNESCO công nhận.

Khái niệm khảo dịch của tác giả cuốn sách cũng không chính xác, vì thực chất ông đâu có dịch mà chỉ chữa lại văn của Nguyễn Du một cách vụng về. Chẳng hạn ông đã thay chữ nghĩ trong 4 câu Kiều bằng những chữ khác:

Câu 12: Gia tư ông cũng thường thường bậc trung
Câu 610: Vì nàng ông cũng thương thầm xót vay
Câu 894: Phía ngoài cũng đã giục liền ruổi xe
Câu 1182: Dơ tuồng hắn mới kiếm đường tháo lui

Ông cho rằng những chữ vừa thay đã làm cho 4 câu thơ trên được nâng lên một tầm cao mới (!?).

Câu 2042: Lạ lùng nàng vẫn tìm đường nói quanh được chữa lại là Lạ lùng Kiều tạm tìm đường nói quanh rồi tự khen chữ “tạm” của mình hay hơn chữ “vẫn” của Nguyễn Du (!).

Ông còn dùng từ đơnlẻ thay cho từ chiếc trong các câu sau đây:

Câu 1523: Người về chiếc bóng năm canh (Nguyễn Du)
Người về đơn bóng năm canh (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1526: Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)
Nửa in gối lẻ nửa soi dặm trường (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1627: Kiều từ chiếc bóng song the (Nguyễn Du)
Kiều từ đơn bóng song the (Đỗ Minh Xuân)

Câu 1792: Buồng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân (Nguyễn Du)
Buồng không thương kẻ tháng ngày đơn thân (Đỗ Minh Xuân)

Câu 2231: Kiều từ chiếc bóng song mai (Nguyễn Du)
Kiều từ đơn bóng song mai (Đỗ Minh Xuân)

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã dùng nhiều từ Hán – Việt và điển cố, tác giả cuốn sách đã mạnh tay (nếu không nói là liều lĩnh) gạt bỏ và thay vào đó những từ mà ông cho là rõ nghĩa hơn và lột tả được nội dung điển tích và ý của Nguyễn Du. Chẳng hạn cha thay cho xuân, mẹ thay cho huyên, cha mẹ thay cho xuân huyên, phụ đường hay phủ đường (!) thay cho xuân đường.

Để bạn đọc có thể hình dung được một cách cụ thể hơn, chúng tôi xin nêu lên sau đây một số trường hợp (trong gần 1000 đơn vị từ) mà tác giả đã chữa lại văn của cụ Nguyễn Du:
.
CâuChữ của Nguyễn Du Chữ thay thế của ông Đỗ Minh Xuân
5Lạ gì bỉ sắc tư phongMõi người thứ có thứ không
136Tay khấucương ngựa
156Một nền Đồng TướcBuồng đào nơi tạm
208Giá đành tú khẩuLời vàng ý ngọc
233mộng triệumộng ấy
235mộng triệumộng mị
238đã dào mạch Tươngđã chào vừng dương
266Lam Kiềuđánh liều
280Lãm Thúykiểu dáng
306Hợp Phốchủ cũ
377(thì) thời trânquả ngon
sẵn bàyxách tay
Thời trân thức thức sẵn bàyQuả ngon thức thức xách tay (!)
406Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế nàyXưa nay hiếm thấy tài đâu thế này
439đỉnh Giáp, non Thầntiên nữ giáng trần
464Chung Kỳngưỡng vì
507(trên) Bộc(trên) cỏ
512Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi – TrươngLứa đôi từng thấy những ngày trái ngang
1458Châu – Trần còn có Châu – Trần nào hơnLứa đôi còn có gì cần nhiều hơn
1638Liệu như cung Quảng ả Hằng nghĩ nao?Liệu người ngoài cuộc khác vòng nghĩ sao?
1988thiếp Lan Đìnhthiếp xem tình
3200Ấy là Hồ Điệp hay là Trang SinhẤy là trong mộng hay là thực sinh
v.v…và v.v…

Trên đây chúng tôi chỉ mới nêu lên một số trường hợp làm dẫn chứng, còn thực tế trên cuốn sách ông Đỗ Minh Xuân đã sửa chữa thay thế khoảng 1/3 chữ nghĩa của Truyện Kiều mà ông cho là rườm rà, trùng lặp, không hay, thiếu logic, trái văn cảnh… Ông còn bắt bẻ cụ Nguyễn Du trong nhiều trường hợp chẳng hạn:

Khi cụ viết: Trải qua một cuộc bể dâu (câu 3). Ông phân tích: Trong đời người, đâu chỉ có một cuộc bể dâu? Phải dùng “mỗi” mới hợp. 

Câu 935 cụ Nguyễn Du viết: Trên treo một tượng trắng đôi lông mày, ông cho rằng tượng không treo được và phải viết Trên treo thần ảnh trắng đôi lông mày.

Câu 2973: Cơ duyên đâu bỗng lạ sao, ông chữa lại là Cơ duyên tác hợp khéo sao và tự cho là hay hơn (!).

Câu 2062: Bóng hoa rợp đất, vẻ ngân ngang trời, ông chữa lại: Bóng hoa rợp đất, ve ngân ngang trời mới hợp với thực tế v.v…và v.v…

Về vấn đề phân tích và lập luận của tác giả đôi khi cũng có thể làm đề tài mua vui, chẳng hạn câu 39: Tiết vừa con én đưa thoi, ông hỏi vặn lại chẳng lẽ cứ tiết trời có én bay là mùa xuân? Như thế, ngoài mùa xuân ra thì én đi bằng hai chân để kiếm sống à?

Câu 57 – 58 theo ông Xuân phải đọc là:

Se se (chứ không phải sè sè) nấm đất bên đường Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh 

Ông phân tích đó là nấm mồ vừa mới đắp, đất hơi se se, cỏ chưa hồi phục hẳn, nên đang còn nửa vàng nửa xanh.

Câu 77: Sắm sanh nếp tử xe châu, ông cho rằng đây không phải là quan tài bằng gỗ thị như nhiều người giải thích, mà chữ “tử “ ở đây phải hiểu là “chết“ mới đúng, tức là nếp dành cho người chết.

Có lẽ không cần phải dẫn chứng và bình luận gì thêm, bạn đọc cũng đã hình dung được công trình khảo dịch Truyện Kiều này của ông Đỗ Minh Xuân và liệu có phải như ông khẳng định cách làm này của ông là một cuộc cách mạng (đại ngôn vô lối) mở đầu cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng, trong sáng và nó sẽ là cơ sở ban đầu cho các thế hệ kế tiếp hoàn thiện cho việc dịch Truyện Kiều sang tiếng Việt hiện đại hay không? Ông tin rằng việc dịch Truyện Kiều ra tiếng nước ngoài cũng sẽ thuận lợi hơn và ông tự thưởng cho mình một lời khen của cụ Tố Như cũng đầy vẻ hài hước: “… Nguyễn Du có sống lại cũng phải thốt lên hậu sinh khả úy” (nguyên văn lời của ông viết ở trang 15).

Riêng suy nghĩ của chúng tôi thì văn chương của Nguyễn Du nói chung và tiêu biểu là kiệt tác Truyện Kiều đã được nhân dân ta thưởng thức và ngưỡng mộ qua nhiều thế hệ, từ những bậc thức giả đến các tầng lớp bình dân kể cả những người không biết chữ và bạn bè quốc tế cũng dành cho nhà thơ những tình cảm tốt đẹp để ca ngợi và tôn vinh. Không hiểu với tác phẩm khảo dịch này có làm cho Truyện Kiều của Nguyễn Du được nâng lên một tầm cao mới như tác giả khẳng định hay không, hay chỉ là những câu vần vè ngây ngô làm cho văn chương Truyện Kiều bị hạ thấp và dung tục hóa đến mức khôi hài. 

Thế Anh

Đôi điều nhắn nhủ ông Vũ Khiêu: 

Người xưa nói “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” để thấy con người ta phấn đấu để có được cái danh khó lắm thay, nhưng để mất danh thì dễ lắm thay. Ông đã có được chút danh (dù hiện nay tôi biết rất nhiều người chửi ông là hữu danh vô thực, kiến thức lỗ mỗ, chỉ giỏi xào xáo), vậy thì càng nên gắng giữ gìn. Tôi thấy dạo này ông làm nhiều việc ảnh hưởng đến danh quá, như cái vụ “giáng bút” ở Bình Đà (tìm đọc bài: “Ô hô, giáo sư AHLĐ Vũ Khiêu từ cõi tiên về giáng bút” trên blog Tễu thì rõ). Chữ nghĩa viết lời bạt in vào sách nó như văn bia ấy. Xưa cụ Nguyễn Khuyến từng cảnh báo: “Văn bia không đốt như văn tế”, vì thế khi viết lách cái gì phải hết sức cẩn trọng. Chê sai còn xin lỗi, đính chính được, chứ khen sai thì biết làm thế nào mà sửa đây. Ông hãy tìm đọc truyện ngắn “Bút máu” của nhà văn Vũ Hạnh để mà thấy cái việc cầm bút phải như thế nào. 

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

Ô HÔ! GIÁO SƯ AHLĐ VŨ KHIÊU TỪ CÕI TIÊN VỀ GIÁNG BÚT Ở BÌNH ĐÀ

Unknown | 8:18:00 PM | 0 comments

Hình ảnh tấm bia đá ở Đình Bình Đà. chụp sáng 5.4.2014 (tức 6.3 âm lịch năm Giáp Ngọ). Trên bia khắc bài văn "Giáng Bút" của Giáo sư - Anh hùng Lao động VŨ KHIÊU:

"Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu đã giáng bút áng văn tuyệt tác 
ca ngợi công đức của Quốc tổ Lạc Long Quân
.
Vinh quang thay!
Trên đất Bình Đà
Dưới trời Hà Nội.
Lục long triều hội.
Lưỡng phượng giao phi.
Mảnh đất thần kỳ.
Mạch nguồn thiên phú.
"Vi Bách Việt Tổ” - trước cửa đền bức đại tự còn lưu
Một tấm phù điêu - Hình Long Quân ngàn năm vẫn tỏ.
Cho hay quốc tổ: tự buổi xưa lập ấp dựng làng
Đại Việt khởi nguyên: tại Bình Đà địa linh nhân kiệt

Vĩ đại thay! 
Đất thiêng Hồng lạc, một đấng anh hùng.
Trời biển vẫy vùng kinh bang tế thế
Sớm khuya sá kể trợ giúp nhân dân.
Diệt quái trừ tinh, xứng danh hào kiệt.
Ngàn năm đại việt, vang vọng thâm ân.
Đức Lạc Long Quân phương danh bất diệt! 

Còn nhớ thủa: (thưở)
Tiên rồng kỳ ngộ tài sắc tương phùng.
Đôi lứa anh hùng nên duyên chồng vợ.
Đất rồng chầu phượng múa - Phật chở che: Trăm trứng – Trăm con
Nơi hổ phục long bàn – Trời phù trợ Trăm miền – Trăm họ
Đây núi cao vượt mọi nguy nan
Kia biển rộng trải muôn gian khó
Hai miền xuôi ngược kết đoàn.
Bốn mặt giang san rộng mở
Gò Tam Thai mộ thiêng Quốc Tổ
Đất Hiền Lương quốc mẫu về trời

Chúng con nay: 
Chút hương hoa: tấc dạ chân thành
Tưởng công đức: kính dâng một lễ.
Hơn bốn ngàn năm, con Lạc, cháu Hồng.
Nguyện nối tổ tông nêu cao đạo lý.
Sơn hà thịnh trị, nhân nghĩa sáng ngời đã trải bao đời, anh tài dũng kiệt.
Toàn dân đoàn kết, mở rộng yêu thương.
Bè bạn muôn phương, giao lưu thi thố.
Tương lai rực rỡ, truyền thống vẻ vang
Lớp lớp cháu con, tu nhân dưỡng trí.
Đất Bình Đà ngút ngàn linh khí
Đền Nội thiêng bát ngát hoa hương
Đồng bào khắp chốn mười phương.
Cùng cúi lậy dâng hương Quốc tổ" 
____________________

TS. Sử học Nguyễn Hồng Kiên bình:
Mớ lạy ông Khiêu họ vũ !   
Giờ nhà cháu mới biết xứ Đoài là VÙNG BIỂN. 
Lại được MỞ MẮT rằng: Hùng Hiền vương ẻ ra Hùng Quốc vương...Mà NHÀ NƯỚC VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI đã xếp hạng bức phù điêu "(đã nghìn năm tuổi)tạc hình Quốc tổ mặc áo hoàng bào cùng các Quan Lạc hầu, Lạc tướng dự hội dua thuyền..." LÀ BẢO VẬT QUỐC GIA CHƯA NHẺ ?

Nhà sử học Đặng Hùng (Thái Bình): Không còn gì để nói:bởi lời giới thiệu đã quá bịa đặt thêm thắt quá nhiều ....đúng là người ngày nay đang viết hộ sử cho người ngày xưa...

TS. Nguyễn Xuân Diện: 
Cụ PR cho Bình Đà kinh quá: "Đại Việt khởi nguyên: tại Bình Đà địa linh nhân kiệt". Hóa ra bây giờ cả nước mới ngã ngửa ra vì nơi khởi nguyên của Đại Việt ta là Bình Đà.

"Gò Tam Thai mộ thiêng Quốc Tổ" - Thưa cụ, chiều hôm mùng 3.4 mới rồi, các cơ quan chức năng đã đình chỉ, yêu cầu phá bỏ phần đang xây dở đã vài vạn gạch, không cho phép xây mả Quốc tổ nữa ạ. Vì chưa có khai quật Khảo cổ học, thưa cụ!

Về MỘ LẠC LONG QUÂN, xin xem bài viết này của nhà biên khảo Phan Duy Kha: Phát hiện mộ Lạc Long Quân: Lại một thông tin giật gân

"Đền Nội thiêng bát ngát hoa hương - Cụ đã gần 100 tuổi, cụ đừng nhao theo đám quan chức thời nay biến Đình thành Đền, thế có khác gì cướp đình của dân làng Bình Đà. 

Tại sao lại đổi từ Đình thành Đền: Ấy là vì nếu để là Đình thì không "thổi" được di tích (cùng lắm chỉ có dự án trùng tu khoảng 10-20 tỷ), phải là Đền mới xin được dự án mở rộng quy mô đền với kinh phí vài trăm tỷ đồng, mới móc tiền ngân sách để nâng cấp lễ hội (nghe nói cái lễ hội dọn đường lần này của ông Bùi Quang Thắng được chi 10 tỷ đồng). Đình thì chỉ là hội làng, mà hội làng thì chỉ là hội làng. Phải Đền thì mới hội vùng, hội quốc gia được!  

Làng bị cướp đình, Dân bị cướp hội. Mà cướp rất tinh vi. Làng Bình Đà bên trong thì có ĐÌNH, bên ngoài thì có ĐỀN, tạo thành kết cấu quy hoạch ĐÌNH NỘI, ĐỀN NGOẠI (Đình Trong - Đền Ngoài). Đình làng Bình  Đà thờ Quốc tổ Lạc Long Quân. Bên cạnh đó, làng có ngôi ĐỀN thờ Hoàng tử Linh Lang nhà Lý. Đền này gọi là ĐỀN NGOẠI, để phân biệt với ĐÌNH TRONG (ĐÌNH NỘI) tức là Đình làng Bình Đà. Lợi dụng sự khúc khuỷu đó, ĐÌNH LÀNG Bình Đà được biến thành ĐỀN NỘI, rồi ĐỀN ĐỨC QUỐC TỔ LẠC LONG QUÂN. 

Mới nhất, hôm mùng 3.4, trên cũng yêu cầu gỡ hết băng rôn về "Đền thờ Quốc tổ " treo la liệt hai bên đường 21 B rồi cụ ạ! 
Mời cụ xem 2 tấm ảnh để biết họ đã xóa đình như thế nào?

 Biển ghi ĐÌNH NỘI

 Họp báo biến thành ĐỀN THỜ

Có thật "Bức phù điêu tạc hình Lạc Long Quân từ 1000 năm trước"?. Thưa cụ, đây đúng là một bức phù điêu rất đẹp, rất quý, nhưng bức phù điêu sơn đắp này chỉ có niên đại thế kỷ 17- 18.  Cụ ủn niên đại lên kinh quá!

Còn chuyện Giáng bút, thì là:

Đọc lời giới thiệu rằng: "Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu đã giáng bút áng văn tuyệt tác ca ngợi công đức Quốc tổ Lạc Long Quân" thì cháu suýt nữa thì lăn đùng ra đấy ạ. Vì chỉ có các bậc Tiên - Phật - Thánh - Thần hoặc các bậc tiên tổ (đã quy tiên) thì mới có "giáng bút". Viết thế khác nào nó rủa cụ đã quy tiên?!! Trời ơi! Cay nghiệt làm sao!

Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một  hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt.

Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn. 

Mời chư vị đọc bài này: "100 năm trước: Thương nòi giống, Thần tiên giáng bút".  

Nghiên cứu về Giáng bút từ năm 1999 đến nay, cháu chỉ mới thấy có một người còn đang sống mà đã Giáng bút là Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận, và hôm nay, được mở mắt ra lần nữa, được biết Cụ cũng "giáng bút".

Ô hô! Ai tai!